Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

0
208

Tuần 2 tháng 02/2020, giá cao su trên thị trường châu Á tăng trở lại, sau khi giảm trong tuần đầu tháng do Trung Quốc trở lại sản xuất từ ngày 10/02/2020. Tuy nhiên, nhìn chung giá vẫn ở mức thấp hơn so với tháng 01/2020.

Giá mủ cao su trong nước 2 tuần đầu tháng 02/2020 ổn định so với cuối tháng 01/2020.

Xuất khẩu cao su tháng 01/2020 giảm do dịp nghỉ Tết dài ngày.Năm 2019, thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc tăng so với năm 2018.

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Tuần 2 tháng 02/2020, giá cao su trên thị trường châu Á tăng trở lại, sau khi giảm trong tuần đầu tháng do Trung Quốc trở lại sản xuất từ ngày 10/02/2020. Tuy nhiên, nhìn chung giá vẫn ở mức thấp hơn so với tháng 01/2020.

+ Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), ngày 14/02/2020, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2020 ở mức 175,8 Yên/kg (tương đương 1,60 USD/kg), tăng 1,2% so với ngày 31/01/2020.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

+ Tại  Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su tự nhiên giao    kỳ hạn tháng 3/2020 sau khi giảm xuống 10.895 NDT/tấn vào ngày 04/02/2020 đã có xu hướng tăng trở lại, nhưng vẫn giảm so với cuối tháng 01/2020. Ngày 14/02/2020, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 3/2020 giao dịch ở mức 11.350 NDT/tấn (tương đương 1,63 USD/kg), giảm 5,9% so với ngày 31/01/2020.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

+ Tại Thái Lan, giá cao su ngày 13/02/2020, giá cao su RSS 3 chào bán ở mức 49 Baht/kg (tương đương 1,57 USD/kg), giảm 8% so với ngày 31/01/2020.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

+  Theo  Cơ  quan  Nông  nghiệp tại vùng Prabumulih, Nam Sumatra, In-đô-nê-xi-a,  xuất   khẩu   cao   su  của nước này chịu ảnh hưởng lớn  bởi dịch Covid-19 Giá cao su tại In-đô-nê-xi-a đã giảm mạnh từ 9.200 Rupi/kg, xuống còn 7.200 Rupi/kg  chỉ trong tuần đầu tháng 02/2020. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của In-đô-nê-xi-a.

Giá cao su trên thị trường thế giới sau khi giảm trong tuần đầu tháng 02/2020 do tác động của Covid-19, đã có xu hướng tăng trở lại kể từ khi Trung Quốc khôi phục lại hoạt động sản xuất từ ngày 10/02/2020, trong bối cảnh nguồn cung yếu do hạn hán tại Thái Lan và dịch bệnh trên cây cao su tại In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a.

Sự lây lan của Covid-19 ở Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng lớn đến ngành sản xuất ô tô, khiến nhu cầu lốp xe giảm. Tiêu thụ cao su tự nhiên của Trung Quốc chiếm 40% lượng tiêu thụ toàn cầu và chủ yếu được sử dụng cho ngành sản xuất lốp xe. Trong khi nhu cầu cao su cho ngành ô tô giảm, thì nhu cầu cao su cho ngành sản xuất găng tay cao su lại tăng, nhằm đáp ứng nhu cầu cao trong đợt dịch, đặc biệt là nhu cầu từ Trung Quốc. Tập đoàn Sri-Trang Agro-Industry của Thái Lan và các nhà sản xuất găng tay cao su tại Ma-lai-xi-a đang tăng cừờng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tại Trung Quốc. Nhu cầu găng tay cao su dự báo sẽ tăng khoảng 25% trong thời gian tới. Tuy nhiên, nhu cầu cao su cho ngành sản xuất găng tay khó có thể bù đắp cho nhu cầu giảm từ ngành sản xuất lốp xe ô tô.

Theo Cơ quan Quản lý  Cao  su  của  Thái Lan (Rubber Authority of Thailand), thời tiết hạn hán diễn ra tại Thái Lan và bệnh nấm lá vẫn đang hoành hành tại In-đô-nê-xi-a và Ma-lai-xi-a sẽ khiến nguồn cung cao su năm 2020 giảm.

– Thái Lan: Theo Cơ quan Hải quan  Thái Lan, năm 2019, xuất khẩu cao su (mã HS 4001, 4002, 4003, 4005) của Thái Lan

đạt 4,81 triệu tấn, trị giá 203,87 tỷ Baht (tương đương 6,52 tỷ USD), giảm 10,4% về lượng và giảm 14,5% về trị giá so với năm 2018. Trong đó, Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu cao su chính của Thái Lan. Năm 2019, xuất khẩu cao su của Thái Lan sang Trung Quốc đạt 2,62 triệu tấn, trị giá 109,61 tỷ Baht (tương đương 3,51 tỷ USD), giảm 15,9% về lượng và giảm 20,8% về trị giá so với năm 2018, chiếm 54,4% trong tổng lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan.

Về cơ cấu chủng loại xuất khẩu: Trong năm 2019, Thái Lan xuất khẩu được 3,14 triệu tấn cao su tự nhiên  (mã  HS:  4001), trị giá 128,49 tỷ Baht (tương đương  4,11  tỷ USD), giảm 10,7% về lượng và giảm 12,8% về trị giá so với năm 2018, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Hoa Kỳ. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,22 triệu tấn, trị giá 50,13 tỷ Baht (tương đương 1,6 tỷ USD), giảm 18,4% về lượng và giảm 20,1% về trị giá so với năm 2018, chiếm 38,8% lượng cao su tự nhiên xuất khẩu của Thái Lan. Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong năm 2019 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc và Ma-lai-xi-a giảm; tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc tăng.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

Trong năm 2019, xuất khẩu cao su  tổng hợp (mã HS: 4002) của Thái Lan đạt 1,5 triệu tấn, trị giá 66,93 tỷ Baht (tương đương 2,14 tỷ USD), giảm 7,7% về  lượng  và giảm 15,2% về trị giá so với năm 2018, chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Nhật Bản. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,31 triệu tấn, trị giá 56,78 tỷ Baht (tương đương 1,82 tỷ USD), giảm 10,5% về lượng và giảm 17,6% về trị giá so với năm 2018.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tổng hợp của Thái Lan trong năm 2019 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, Hoa Kỳ và Việt Nam giảm, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a, Nhật Bản, In-đô-nê-xi-a lại tăng.

(Tỷ giá 1 Baht = 0,03201 USD).

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Từ đầu tháng 02/2020 đến nay, giá mủ cao su nguyên liệu tại Bình Phước ổn định so với trước Tết Nguyên đán. Hiện giá thu mua mủ nước tại vườn và nhà máy tại Công ty TNHH MTV Lộc Ninh đạt lần lượt 287 đ/độ TSC và 292 đ/độ TSC, giữ nguyên so với trước Tết Nguyên đán.

XUẤT KHẨU CAO SU THÁNG 01/2020 GIẢM MẠNH DO TRÙNG DỊP NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 01/2020 đạt 90,13 nghìn tấn, trị giá 131,4 triệu USD, giảm 54,8% về lượng và giảm 52,5% về trị giá so với tháng 12/2019, giảm 42,8% về lượng và giảm 34,4% về trị giá so với tháng 01/2019. Xuất khẩu cao su giảm là do trong tháng có thời gian ngừng giao dịch để nghỉ Tết Nguyên đán.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

Về giá xuất khẩu: Tháng 01/2020, giá xuất khẩu cao su bình quân đạt 1.458 USD/tấn, tăng 5,1% so với tháng 12/2019 và tăng 14,7% so với cùng kỳ năm 2019.

Trong tháng 01/2020, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam, đạt 66,57 nghìn tấn, trị giá 96,45 triệu USD, giảm 55% về lượng và giảm 57,7% về trị giá so với tháng 12/2019; giảm 36% về lượng và giảm 26,6% về trị giá so với tháng 01/2019; Tỷ trọng xuất khẩu cao su sang Trung Quốc chiếm 73,9% tổng lượng xuất khẩu của Việt Nam. Giá xuất khẩu cao su của Việt Nam sang Trung Quốc trong tháng 01/2020 đạt bình quân 1.449 USD/tấn, tăng 5,1% so với tháng 12/2019 và tăng 14,7% so với tháng 01/2019.

Trong tháng 01/2020, lượng cao su xuất khẩu sang tất cả các thị trường đều giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2019 như: Trung Quốc giảm 36%; Ấn Độ giảm 75,7%; Hàn Quốc giảm 48,6%; Hoa Kỳ giảm 44,7%…

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

Dự báo, xuất khẩu cao su sang Trung Quốc sẽ gặp khó khăn do ảnh hưởng bởi Covid-19 tại Trung Quốc khiến nhu cầu nhập khẩu cao su của nước này giảm. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su chủ yếu của Việt Nam, mặc dù các doanh nghiệp đã rất nỗ lực đa dạng hóa thị trường.

DUNG LƯỢNG THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU CAO SU CỦA HÀN QUỐC NĂM 2019 VÀ THỊ PHẦN CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê của Cơ quan Hải quan Hàn Quốc, trong năm 2019, Hàn Quốc nhập khẩu 556,33 nghìn tấn cao su (mã HS 4001,4002,4003,4005), trị giá 1,03 tỷ USD, giảm 4,7% về lượng và giảm 7% về trị giá  so với năm 2018. In-đô-nê-xi-a, Thái Lan và Việt Nam là 3 thị trường cung cấp cao su lớn nhất cho Hàn Quốc.

Năm 2019, cơ cấu thị trường cung cấp cao su cho Hàn Quốc có nhiều thay đổi, thị phần của 3 thị trường cung cấp lớn nhất là Thái Lan, In-đô-nê-xi-a và Nhật Bản giảm, trong khi thị phần của Việt Nam, Trung Quốc và Hoa Kỳ tăng.

Trong năm 2019, Hàn Quốc tăng nhập khẩu cao su từ Việt Nam, trong khi giảm nhập khẩu từ các thị trường cung cấp lớn. Năm 2019, nhập khẩu cao su của Hàn Quốc từ Việt Nam đạt 47,34 nghìn tấn, trị giá 70,59 triệu USD, tăng 19,9% về lượng và tăng 15,1% về trị giá so với năm 2018. Thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc tăng từ 6,8% trong năm 2018, lên 8,5% trong năm 2019.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

Trong năm 2019, nhập  khẩu  cao  su tự nhiên (mã HS 4001) của Hàn Quốc đạt 365,34 nghìn tấn, trị giá 531,18 triệu USD, giảm 3,6% về lượng và giảm 5,8% về trị giá so với năm 2018. In-đô-nê-xi-a, Thái Lan và Việt Nam là 3 thị trường cung cấp cao su tự nhiên lớn nhất cho Hàn Quốc. Việt Nam là thị trường cung cấp cao su tự nhiên lớn thứ 3 cho Hàn Quốc, đạt 47,08 nghìn tấn, trị giá 70,26 triệu USD, tăng 19,6% về lượng và tăng 15,4% về trị giá so với năm 2018.

Cơ cấu thị trường  cung  cấp  cao  su  tự nhiên cho Hàn Quốc trong năm 2019 thay đổi khi thị phần cao su Thái Lan và In-đô-nê-xi-a trong tổng nhập khẩu của Hàn Quốc giảm, thị phần của Việt Nam, Ma-lai-xi-a và Mi-an-ma tăng.

Bản tin thị trường cao su đến ngày 14/02/2020

Trong năm 2019, nhập khẩu cao su tổng hợp (mã HS 4002) của Hàn Quốc đạt 167,44 nghìn tấn, trị giá 455,13 triệu USD, giảm 5% về lượng và giảm 7,8% về trị giá so với năm 2018. Năm 2019, Hàn Quốc nhập khẩu cao u tổng hợp chủ yếu từ các thị trường như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Xin-ga-po và Trung Quốc, trong khi nhập khẩu từ Việt Nam chỉ chiếm 0,03% trong tổng lượng cao su tổng hợp nhập khẩu của Hàn Quốc.

Nguồn:  Bản tin về thị trường nông, lâm, thủy sản số ra ngày 14/02/2020 của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương