Thị trường nông sản ngày 14/10: Giá cà phê đi ngang từ đầu tuần, giá tiêu tăng 500 – 1.000 đồng/kg

0
359
Advertisement

Giá cà phê hôm nay ở khu vực Tây Nguyên không đổi, dao động trong khoảng 31.400 – 32.200 đồng/kg. Trong khi đó, giá tiêu tăng 500 – 1.000 đồng/kg ở nhiều tỉnh sau nhiều ngày liên tiếp đi ngang.

Cập nhật giá cà phê

Giá cà phê hôm nay ở khu vực Tây Nguyên không đổi, dao động trong khoảng 31.400 – 32.200 đồng/kg. Trong đó, giá cà phê cao nhất ghi nhận tại Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng, theo tintaynguyen.com.

Giá cà phê quanh cảng TP HCM đi ngang ở mức 33.500 đồng/kg

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua

Đơn vị: VNĐ/kg

LÂM ĐỒNG
— Lâm Hà (Robusta) 31.400
— Bảo Lộc (Robusta) 31.500
— Di Linh (Robusta) 31.400
ĐẮK LẮK
— Cư M’gar (Robusta) 32.200
— Ea H’leo (Robusta) 32.000
— Buôn Hồ (Robusta) 32.000
GIA LAI
— Ia Grai (Robusta) 31.800
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa (Robusta) 31.900
KON TUM
— Đắk Hà (Robusta) 32.200
HỒ CHÍ MINH
— R1 33.500

Giá cà phê robusta giao trong tháng 11 giảm 1% lên 1.262 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 12 giảm 0,12% xuống 93,3 UScent/pound.

Theo báo cáo từ Tổ chức Cà phê thế giới (ICO), Xuất khẩu cà phê arabica trong 11 tháng đầu năm tăng 11,3% do xuất khẩu của Colombia và Brazil tăng hơn nhiều so với các quốc gia khác giảm.

Xuất khẩu từ Colombia tăng 8,6% lên 13,88 triệu bao, trong khi từ Brazil tăng 25,4% lên 38,57 triệu bao. Phần lớn cà phê của Colombia được xuất khẩu và các lô hàng tăng 7,8% lên 12,53 triệu bao trong 11 tháng đầu năm 2018 – 2019.

Tanzania và Kenya cũng xuất khẩu nhiều hơn trong giai đoạn này, với xuất khẩu tăng lần lượt 47,4% và 11% lên 1,04 triệu bao và 743.203 túi.

Sản xuất tăng 31,1% lên 38,72 triệu bao của Brazil đã dẫn đến sự tăng trưởng trong xuất khẩu. Tuy nhiên, xuất khẩu từ Ethiopia, nhà xuất khẩu lớn thứ hai của Brazil, giảm 4,8% xuống còn 3,23 triệu bao.

Xuất khẩu của các quốc gia khác giảm 4,1% xuống còn 24,99 triệu bao trong 11 tháng đầu năm. Theo ICO, xuất khẩu từ 6 trong số 10 thành viên lớn nhất trong khu vực Mexico và Trung Mỹ đều giảm trong giai đoạn này.

Xuất khẩu từ Honduras giảm 5,1% xuống 6,57 triệu bao, từ Peru giảm 7,3% xuống 3,14 triệu bao và từ Mexico giảm 11,7% xuống 2,53 triệu bao.

Tuy nhiên, xuất khẩu từ Guatemala trong giai đoạn này tăng 5% lên 3,34 triệu bao và xuất khẩu từ Nicaragua tăng 13,2% lên 2,64 triệu bao.

Cập nhật giá hồ tiêu

Giá tiêu hôm nay toàn vùng Tây Nguyên tăng 500 đồng/kg ở hai tỉnh Gia Lai và Bình Phước lên lần lượt 39.500 đồng/kg và 41.000 đồng/kg. Giá tiêu tại tỉnh Đồng Nai tăng 1.000 đồng/kg lên 40.000 đồng/kg.

Tỉnh/huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua

Đơn vị: VNĐ/kg

ĐẮK LẮK
— Ea H’leo 40.500
GIA LAI
— Chư Sê 39.500
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa 40.500
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
— Tiêu 41.500
BÌNH PHƯỚC
— Tiêu 41.000
ĐỒNG NAI
— Tiêu 40.000

Theo tính toán từ số liệu thống kê của ITC, nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019 đạt 3,5 nghìn tấn, trị giá 20,13 triệu USD, tăng 2,5% về lượng, nhưng giảm 6,0% về trị giá so với 7 tháng đầu năm 2018.

Trong đó: Thái Lan nhập khẩu chủ yếu hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng chưa nghiền hoặc chưa nghiền nát (mã HS 090411), chiếm 76,3% tổng lượng nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2019, đạt 2,7 nghìn tấn, tăng 19,2% so với 7 tháng đầu năm 2018.

Ngược lại, Thái Lan giảm nhập khẩu hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng đã nghiền hoặc nghiền nát (mã HS 090412), giảm 10,5%.

Về cơ cấu nguồn cung: 7 tháng đầu năm 2019, Thái Lan tăng nhập khẩu hạt tiêu từ Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Mỹ, Lào, nhưng giảm nhập khẩu từ Việt Nam, Trung Quốc, Philiippines, Nhật Bản, Campuchia.

Cụ thể: Việt Nam là nguồn cung hạt tiêu lớn nhất cho Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019, đạt 2,76 nghìn tấn, trị giá 14,4 triệu USD, giảm 4,9% về lượng và giảm 25,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Thị phần hạt tiêu Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan giảm từ 84,5% trong 7 tháng đầu năm 2018, xuống 78,4% trong 7 tháng đầu năm 2019.

Trong 7 tháng đầu năm 2019, Thái Lan nhập khẩu từ Việt Nam chủ yếu là hạt tiêu đen và hạt tiêu trắng chưa nghiền hoặc chưa nghiền nát (mã HS 090411) với tỷ trọng chiếm 70,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hạt tiêu của Thái Lan, giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Cập nhật giá cao su

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), giá cao su giao tháng 11/2019 lúc 10h35 ngày 12/10 (giờ địa phương) giảm 0,1% xuống 154,5 yen/kg.

Trong 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su tự nhiên (mã HS: 4001) của Thái Lan đạt 2,19 triệu tấn, trị giá 92,05 tỷ Baht (tương đương 3 tỷ USD), giảm 6,7% về lượng và giảm 8,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Trung Quốc, Malaysia và Mỹ là 3 thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên lớn nhất của Thái Lan. Trong 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan sang Trung Quốc đạt 858,32 nghìn tấn, trị giá 36,26 tỷ Baht (tương đương 1,18 tỷ USD), giảm 12,6% về lượng và giảm 14,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 39,1% lượng xuất khẩu của Thái Lan.

Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong 8 tháng đầu năm 2019 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang 3 thị trường chính là Trung Quốc, Malaysia và Ấn Độ giảm, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang Mỹ, Nhật Bản lại tăng.

H.Mĩ

Theo Kinh tế & Tiêu dùng