Bản tin thị trường cao su đến ngày 30/8/2019

0
63
  • Giá cao su tại sàn giao dịch TOCOM giảm mạnh, tại Thượng Hải và Thái Lan tăng nhẹ so với đầu tháng 8.
  • Giá mủ cao su nguyên liệu tại thị trường trong nước tháng 8/2019 giảm so với tháng trước đó.
  • Xuất khẩu cao su tổng hợp giảm, trong khi xuất khẩu nhiều chủng loại cao su khác tăng trưởng khả quan.
  • Thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ ổn định so với cùng kỳ năm 2018.

THỊ TRƯỜNG THẾ GIỚI

Trong tháng 8/2019, giá cao su trên thị trường thế giới biến động không đồng nhất, cụ thể:

+ Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), tháng 8/2019 giá cao su giao kỳ hạn tháng 9/2019 có xu hướng giảm mạnh so với cuối tháng 7/2019. Chốt phiên giao dịch ngày 28/8/2019, giá cao su giao kỳ hạn tháng 9/2019 giao dịch ở mức 156,5 Yên/kg (tương đương 1,48 USD/kg), giảm 29,3% so với cuối tháng 7/2019. Giá cao su trên sàn Tokyo chạm mức thấp nhất 9 tháng do căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ – Trung Quốc nóng lên, làm gia tăng lo ngại về kinh tế toàn cầu; Đồng Yên giảm và thị trường chứng khoán Tokyo giảm cũng gây áp lực lên thị trường cao su.

+ Tại Thượng Hải, tháng 8/2019 giá cao su kỳ hạn giao tháng 9/2019 biến động thất thường dưới tác động của diễn biến căng thẳng thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chốt phiên giao dịch ngày 28/8/2019, giá cao su kỳ hạn giao tháng 9/2019 trên sàn Thượng Hải giao dịch ở mức 10.585 NDT/tấn (tương đương 1,48 USD/tấn), tăng 0,1% so với cuối tháng 7/2019. Giá cao su tại Thượng Hải tăng trong những ngày gần đây bởi thông tin Trung Quốc sẵn sàng giải quyết căng thẳng thương mại với Hoa Kỳ thông qua đàm phán; Nhiều nhà đầu tư Trung Quốc cũng kỳ vọng chính sách kích thích kinh tế của nước này, nhất là kế hoạch nới lỏng những quy định về vốn ở các dự án hạ tầng cơ sở Trung Quốc trong 6 tháng cuối năm 2019 sẽ khiến nhu cầu tiêu thụ cao su tăng lên.

+ Tại Thái Lan, tháng 8/2019, giá cao su RSS3 sau khi tăng lên 46,2 Baht/kg vào ngày 22/8/2019 đã giảm trở lại, ngày 28/8/2019 giá cao su RSS 3 chào bán ở mức 44,4 Baht/kg (tương đương 1,45 USD/kg), cao hơn 7,8% so với đầu tháng 8/2019, nhưng vẫn thấp hơn 7,5% so với cuối tháng 7/2019.

Dự báo: Thị trường cao su tự nhiên thế giới thời gian tới vẫn khó khăn, nhiều chuyên gia cho rằng thị trường đang bước vào chu kỳ giảm giá. Đặc biệt trong bối cảnh căng thẳng thương mại Hoa Kỳ – Trung Quốc vẫn chưa có dấu hiệu đi đến hồi kết. Cuộc chiến thuế quan giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc có nguy cơ kéo kinh tế toàn cầu suy yếu, đồng nghĩa với nhu cầu hàng hóa, trong đó có các sản phẩm cao su.

– Thái Lan: Theo Cơ quan Hải quan Thái Lan, 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su (mã HS 4001; 4002;4003;4005) của Thái Lan đạt 2,82 triệu tấn, trị giá 122,67 tỷ Baht (tương đương 4,01 tỷ USD), giảm 8,5% về lượng và giảm 12,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân ở mức 1.418 USD/tấn, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,49 triệu tấn, trị giá 63,96 tỷ Baht (tương đương 2,09 tỷ USD), giảm 15,4% về lượng và giảm 20,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, chiếm 52,7% trong tổng lượng cao su xuất khẩu của Thái Lan trong kỳ; giá xuất khẩu bình quân sang Trung Quốc đạt 1.403 USD/tấn, giảm 6% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su của Trung Quốc sang Hoa Kỳ đạt 157,15 nghìn tấn, trị giá 7,21 tỷ Baht (tương đương 259,7 triệu USD), tăng 18,1% về lượng và tăng 9,9% về trị giá, giá xuất khẩu bình quân đạt 1.652 USD/tấn, giảm 7% so với cùng kỳ năm 2018. (Tỷ giá ngày 27/8/2019: 1 Baht = 0,03271 USD).

Trong 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su tự nhiên (mã HS: 4001) của Thái Lan đạt 1,94 triệu tấn, trị giá 81,55 tỷ Baht (tương đương 2,67 tỷ USD) giảm 5,5% về lượng và giảm 8,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân đạt 1.372 USD/tấn, giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2018. Thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019 gồm: Trung Quốc, Ma-lai-xi-a và Hoa Kỳ… Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên của Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019 có sự thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang 2 thị trường lớn nhất là Trung Quốc và Ma-lai-xia giảm, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Nhật Bản lại tăng.

Trong 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su tổng hợp (mã HS: 4002) của Thái Lan đạt 790,18 nghìn tấn, trị giá 36,21 tỷ Baht (tương đương 1,18 tỷ USD), giảm 12,3% về lượng và giảm 18,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân đạt 1.499 USD/tấn, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm 2018. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu cao su tổng hợp lớn nhất của Thái Lan với tỷ trọng chiếm 85,1% tổng lượng xuất khẩu của Thái Lan, đạt 672,67 nghìn tấn, giảm 17,1% so với cùng kỳ năm 2018. Cơ cấu thị trường xuất khẩu cao su tổng hợp của Thái Lan trong 7 tháng đầu năm 2019 cũng thay đổi khi tỷ trọng xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 4,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm 2018, trong khi tỷ trọng xuất khẩu sang Ma-lai-xi-a, Nhật Bản và Việt Nam tăng.

THỊ TRƯỜNG TRONG NƯỚC

Tháng 8/2019, giá mủ cao su nguyên liệu tại Đắk Lắk biến động theo xu hướng giảm so với cuối tháng 7/2019. Ngày 28/8/2019, tại Đắk Lắk, giá thu mua mủ cao su nước tại vườn và nhà máy đạt lần lượt 232 đ/độ TSC và 237 đ/độ TSC, giảm 3 đ/độ TSC so với cuối tháng 7/2019.

Tính đến ngày 28/8/2019, Công ty TNHH MTV cao su Lộc Ninh 6 lần điều chỉnh giá thu mua mủ cao su theo xu hướng giảm.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CAO SU CỦA VIỆT NAM

Theo ước tính, xuất khẩu cao su trong tháng 8/2019 đạt 175 nghìn tấn, trị giá 238 triệu USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 1,7% về trị giá so với tháng 7/2019, tăng 2,4% về lượng và tăng 9,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân tăng 6,8% so với cùng kỳ năm 2018, lên mức 1.360 USD/tấn. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su đạt 957 nghìn tấn, trị giá 1,31 tỷ USD, tăng 9,1% về lượng và tăng 7,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá xuất khẩu bình quân giảm 1,7% so với cùng kỳ năm 2018, xuống còn 1.373 USD/tấn.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 7/2019 và 7 tháng đầu năm 2019, trong khi xuất khẩu chủng loại cao su lớn nhất là cao su tổng hợp tiếp tục giảm, thì xuất khẩu nhiều chủng loại cao su khác tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2018.

Trong đó, cao su SVR 20 là chủng loại có tốc độ tăng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2018, tăng 185,1% về lượng và tăng 188,3% về trị giá, đạt 2,76 nghìn tấn, trị giá 3,9 triệu USD; Lũy kế 7 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu cao su SVR 20 đạt 11,2 nghìn tấn, trị giá 15,58 triệu USD, tăng 250,5% về lượng và tăng 226,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. Các chủng loại có tốc độ tăng mạnh tiếp theo gồm: SVR 10, SVR 3L, Latex, RSS3, RSS1, Skim block…

Trong 7 tháng đầu năm 2019, cao su tổng hợp vẫn là chủng loại cao su xuất khẩu lớn nhất, đạt 363,41 nghìn tấn, trị giá 499,47 triệu USD, giảm 0,8% về lượng và giảm 3,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Về giá xuất khẩu:

Tháng 7/2019, giá xuất khẩu bình quân nhiều mặt hàng cao su tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm 2018 như: Cao su tổng hợp giảm 2,9%; Latex giảm 1,5%; SVR 20 giảm 1,4%; SVR CV50 giảm 3%, RSS1 giảm 1,8%… Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân một số chủng loại cao su lại tăng so với cùng kỳ năm 2018 như: SVR 5 tăng 10,7%; cao su tái sinh tăng 3,3%, cao su hỗn hợp tăng 1,6%…

DUNG LƯỢNG THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU CAO SU CỦA HOA KỲ TRONG 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2019 VÀ THỊ PHẦN CỦA VIỆT NAM

Theo số liệu thống kê của Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ, trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ đạt 1,04 triệu tấn, trị giá 1,93 tỷ USD, tăng 4,2% về lượng và tăng 0,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018; giá nhập khẩu bình quân ở mức 1.858 USD/tấn, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm 2018. Trong đó, In-đô-nê-xi-a, Thái Lan và Ca-na-da là 3 thị trường cung cấp cao su chính cho Hoa Kỳ. Trong 6 tháng đầu năm 2019, Hoa Kỳ tăng nhập khẩu cao su từ: Thái Lan tăng 22,3%; Đức tăng 25,8%; Ma-lai-xi-a tăng 30,5%… nhập khẩu từ In-đô-nê-xi-a giảm 5%; Hàn Quốc giảm 2,5%; Mê-hi-cô giảm 4,8%…

Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ từ Việt Nam đạt 15,41 nghìn tấn, trị giá 19,87 triệu USD, tăng 2,6% về lượng, nhưng giảm 11,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018, thị phần cao su Việt Nam trong tổng nhập khẩu cao su của Hoa Kỳ chiếm 1,5%, ổn định so với cùng kỳ năm 2018.

Về chủng loại nhập khẩu:

Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su tự nhiên (mã HS: 4001) của Hoa Kỳ đạt 534,62 nghìn tấn, trị giá 776,7 triệu USD, tăng 3,2% về lượng, nhưng giảm 5,8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018. In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Bờ Biển Ngà, Li-bê-ri-a, Ma-lai-xi-a và Việt Nam là các thị trường cung cấp cao su tự nhiên chủ yếu cho Hoa Kỳ…

Cơ cấu thị trường cung cấp cao su tự nhiên cho Hoa Kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019 có nhiều biến động khi thị phần cao su In-đô-nê-xi-a trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ giảm, thị phần của Thái Lan tăng mạnh. Thị phần cao su của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ không thay đổi.

Trong 6 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu cao su tổng hợp (mã HS: 4002) của Hoa Kỳ đạt 367,5 nghìn tấn, trị giá 825,78 triệu USD, tăng 4,8% về lượng và tăng 5,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.

Hàn Quốc, Đức và Nga là 3 thị trường cung cấp cao su tổng hợp lớn nhất cho Hoa Kỳ. Thị phần cao su tổng hợp Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Hoa Kỳ chỉ chiếm 0,01%.

Nguồn:  Bản tin của Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

Xem toàn bộ bản tin tại đây