Hàng hóa TG tháng 2/2019: Giá dầu và kim loại tăng, nông sản giảm

0
125

Tháng 2/2019, giá dầu và một số kim loại công nghiệp chủ chốt đều đi lên.

Năng lượng: Giá dầu thô tăng tháng thứ 2 liên tiếp

Phiên cuối cùng của tháng 2/2019 (ngày 28/2/2019 theo giờ quốc tế, kết thúc vào rạng sáng 1/3/2019 giờ VN), giá dầu thô diễn biến trái chiều trên các thị trường, tiếp tục tăng trên sàn New York sau thông tin dự trữ dầu thô Mỹ giảm, nhưng giảm tại sàn London trong bối cảnh những căng thẳng thương mại Mỹ – Trung vẫn tiếp diễn, các nền kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ đều cho thấy dấu hiệu chậm lại và sản xuất dầu của Mỹ đang tăng làm lu mờ những nỗ lực cắt giảm sản xuất của OPEC+.

Đóng cửa phiên giao dịch cuối cùng của tháng 2/2019, giá dầu thô ngọt nhẹ WTI giao kỳ hạn tháng 4/2019 tăng 28 cent tương đương 0,5% lên 57,22USD/thùng trên sàn New York.

Tuy nhiên tính chung cả tháng, cả hai loại giá dầu đều tăng và có tháng tăng thứ 2 liên tiếp, trong đó WTI tăng 6,4% còn Brent tăng 6,6%.

Số liệu từ Trung Quốc cho thấy hoạt động của các nhà máy tại nước này rớt xuống mức thấp nhất trong gần 3 năm. Sản xuất tại Trung Quốc nhiều khả năng đã suy giảm bởi Tết Nguyên đán, nhu cầu tiêu dùng bên ngoài Trung Quốc cùng thời điểm cũng yếu.

Chuyên gia phân tích về thị trường hàng hóa toàn cầu tại Schneider Electric, ông Robbie Fraser, cho biết một số thị trường lớn như Trung Quốc và Ấn Độ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong nhu cầu tiêu thụ dầu toàn cầu, chính vì vậy thông tin liên quan đến bất ổn kinh tế của nhóm này chắc chắn khiến cho giá dầu giảm sâu.

Kết quả một cuộc khảo sát của Reuters với 36 nhà kinh tế và phân tích cho thấy giá dầu không có triển vọng tăng mạnh trong năm nay, dự báo Brent sẽ đạt mức trung bình 66,44 USD vào năm 2019, thấp hơn một chút so với dự báo tháng 1.

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm thứ Năm cảnh báo ông có thể sẽ từ bỏ thỏa thuận thương mại với Trung Quốc nếu tình hình không đủ tốt, ngay cả khi các cố vấn kinh tế của ông đã thúc đẩy tiến trình “tuyệt vời” hướng tới thỏa thuận chấm dứt tranh chấp với quốc gia châu Á này. Sản lượng dầu của Mỹ đã tăng từ mức hơn 2 triệu thùng/ngày trong năm qua lên mức kỷ lục 12,1 triệu thùng/ngày tuần trước.

Kim loại cơ bản: Vàng phiên cuối tháng thấp nhất 2 tuần, so với 1 tháng trước ổn định

Phiên cuối tháng, giá vàng thế giới rơi xuống mức thấp trong hai tuần khi đồng USD phục hồi nhờ dữ liệu về kinh tế Mỹ mạnh hơn dự đoán. Trong khi giá bạch kim tăng khá mạnh. Tại New York, giá vàng Mỹ giao kỳ hạn khép phiên giảm 0,4% xuống 1.316,1 USD/ ounce. Giá vàng giao ngay cũng giảm 0,4% xuống 1.314 USD/ ounce, sau khi có lúc giảm xuống 1.312,43 USD/ ounce – mức thấp nhất kể từ phiên 15/2.

Tuy nhiên, so với cách đây một tháng, giá vàng hiện tại gần như không thay đổi.

Đồng USD đã lấy lại được phong độ sau khi Bộ Thương mại Mỹ cho biết GDP của nước nàytrong quý cuối 2018 tăng 2,6%, cao hơn mức dự kiến của các nhà kinh tế.

Chiến lược gia kỳ cựu về hàng hóa Phil Streible tại RJO Futures tại Chicago (Mỹ) nhận định hiện giá vàng đang bị chi phối nhiều hơn bởi dữ liệu, cụ thể là số liệu kinh tế Mỹ. Theo The Hill ngày 28/2, nền kinh tế Mỹ đạt tốc nhịp tăng trưởng 2,6% trong quý IV/2018, và tăng trưởng 2,9% trong cả năm 2018. Số liệu kinh tế Mỹ khả quan đã đẩy đồng USD đi lên, qua đó kéo lùi giá vàng.

Các nhà đầu tư hiện đang dõi theo tình hình căng thẳng giữa Ấn Độ và Pakistan và tiến triển của các cuộc đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc. Vàng được coi là một tài sản đảm bảo trong thời gian bất ổn về kinh tế hoặc chính trị.

Phát biểu trong phiên điều trần trước Ủy ban Chính sách và Tài chính thuộc Hạ viện Mỹ, ông Robert Lighthizer cho biết còn quá sớm để dự đoán kết quả các cuộc đàm phán thương mại đang diễn ra với Bắc Kinh. Ông lưu ý rằng Mỹ sẽ cần duy trì mối đe dọa về thuế quan đối với hàng hóa Trung Quốc trong nhiều năm nữa ngay cả khi hai bên đạt được một thỏa thuận.

Ông John Sharma, chuyên gia kinh tế thuộc ngân hàng National Australian Bank, cho biết rằng đà tăng của giá vàng đã phần nào bị hạn chế khi nhà đầu tư chuyển một phần nhu cầu “trú ấn an toàn” sang đồng USD khi xuất hiện những bất ổn xung quanh đàm phán thương mại Mỹ-Trung.

Tuy một số sự kiện chính trị khiến cho giá vàng suy yếu, nhưng các nhà đầu tư vẫn mang một tâm trạng lạc quan với tâm lý có thể chốt lời ngắn hạn. Giá vàng được dự báo là sẽ có khả năng tăng trong thời gian tới.

Chuyên gia Sharma nhận định giá vàng dự kiến sẽ đi lên quanh mức 1.310 – 1.330 USD/ounce tùy thuộc vào diễn biến của đồng USD. Ông cho hay lực đẩy chính cho giá vàng nhiều khả năng sẽ đến từ lập trường ôn hòa hơn của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) về chính sách tiền tệ, bên cạnh việc rất nhiều ngân hàng trung ương đang quan tâm đến tích lũy vàng.

Về những kim loại quý khác, giá bạc giao ngay phiên này giảm 1% xuống 15,58 USD/ ounce và đã giảm khoảng 3% trong tháng 2/2019. Trong khi giá bạch kim tăng 0,3% lên 867 USD/ ounce sau khi có lúc trong phiên tăng lên mức cao nhất kể từ phiên 7/11 năm ngoái là 876 USD/ ounce. Giá palladi giao ngay phiên này tăng 0,9% lên 1.542 USD/ ounce.

Kim loại công nghiệp: Giá đồng loạt tăng trong tháng 2

Giá đồng tăng cao vào cuối phiên giao dịch do các số liệu công nghiệp Trung Quốc yếu và mối lo ngại về cuộc chiến Mỹ Trung tiếp tục căng thẳng, làm lu mờ mối lo về dự trữ giảm mạnh.

Giá đồng tham khảo tại LME đóng cửa ở mức 6,509 USD/tấn, nâng giá đồng trong cả tháng 2 tăng 5,5%, tháng tăng thứ hai liên tiếp.

Giá quặng sắt và thép kỳ hạn tại Trung Quốc cũng tăng cao trong phiên cuối tuần do dự báo nhu cầu tiêu thụ thép xây dựng sẽ tăng trong tháng tới. Giá quặng sắt tại Đại Liên giao tháng 5/2019 tăng 2% chốt phiên ở mức 609,5 CNY(91,21 USD)/tấn. Đánh dấu tháng tăng thứ 3 liên tiếp.

Nhu cầu tiêu thụ thép đã chậm lại tại Trung Quốc kể từ cuối năm 2018 khi nhiều dự án xây dựng bị dừng lại do thời tiết lạnh và nền kinh tế Trung Quốc suy yếu.Nguồn cung thép vẫn dồi dào mặc dù có những hạn chế sản xuất nhằm chống ô nhiễm.

Sản lượng thép thô của Trung Quốc đạt 928,3 triệu tấn vào năm 2018. Sản lượng trong tháng 1/2019 đã tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước lên 75,0 triệu tấn, theo Hiệp hội Thép Thế giới.

Dự trữ quặng sắt tại cảng Trung Quốc hiện đang ở mức 145,05 triệu tấn, mức cao nhất kể từ 21/9/2018.

Giá thép cây tại Thượng Hải giao tháng 5/2019 chốt phiên tăng 0,6% đạt 3.750 CNY/tấn. Giá thép cuộn cán nóng chốt phiên tăng 1% đạt 3.778 CNY/tấn.

Nông sản: Đường và cà phê cùng giảm

Phiên cuối tháng, giá đường thô giao tháng 5 giảm 0,19 US cent tương đương 1,5% xuống 12,78 US cent/lb, tính chung cả tháng giá giảm nhẹ 0,2%. Cùng phiên, đường trắng cũng giảm 2,6 USD tương đương 0,7% xuống 348 USD/tấn.

Thị trường đường toàn cầu dự báo sẽ dư thừa 641.000 tấn trong vụ 2018/19, thấp hơn mức dư thừa 2,17 triệu tấn dự báo trước đây, theo Tổ chức Đường quốc tế.

Với mặt hàng cà phê, trong phiên cuối tháng, arabica giao tháng 5 trên sàn New York giảm 0,5 US cent tương đươn 0,5% xuống 98,45 US cent/lb, sau khi có lúc giao dịch ở mức chỉ 97,40 US cent. Robusta giao cùng kỳ hạn giảm 11 USD tương đương 0,7% xuống 1.537 USD/tấn.

Hoạt động giao dịch cà phê ở cả Việt Nam và Indonesia vẫn trầm lắng trong tuần, vì nông dân Việt Nam không vội bán hạt cà phê của họ, trong khi vụ mùa mới vẫn còn vài tháng nữa mới tới ở Indonesia.

Người nông dân Tây Nguyên đã bán cà phê hạt với giá 34.000 đồng-34.300 đồng (1,47- 1,48 USD)/kg so với mức 32.400 đồng-33.300 đồng tuần trước.Cà phê Robusta Việt Nam xuất khẩu ( loại 2, 5% đen và vỡ) đang được chào giá trừ lùi 20 USD/tấn so với hợp đồng kỳ hạn tháng 5 tại London.

Xuất khẩu cà phê của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm ước đạt 284.000 tấn, giảm 19,6%, tương đương 4,73 triệu bao 60 kg so với cùng kỳ năm ngoái. Kim ngạch xuất khẩu cà phê giảm 26,9% xuống còn 500 triệu USD trong thời gian này. Riêng trong tháng 2, xuất khẩu ước đạt 100.000 tấn và trị giá 175 triệu USD.

Trong khi đó, thị trường Indonesia trầm lắng do vụ thu hoạch còn vài tháng nữa mới bắt đầu. Mức cộng giá cà phê Robusta loại 4, 80 hạt lỗi của Indonexia là 70- 80 USD so với hợp đồng tháng 5 tại London, tương tự như tuần trước do cung và cầu đều yếu.

Giá cao su trê sàn thương mại Tokyo ổn định sau khi tăng vào đầu phiên giao dịch. Giá cao su tại Tokyo giao hàng tháng 8/2019 giữ ở mức 200,8 JPY/kg. Giá cao su kỳ hạn TSR 20 tại Tokyo giao tháng 8/2019 đóng cửa giảm 0,7 JPY xuống còn 170,1 JPY/kg.

Trong khi đó, giá cao su tại Thượng Hải giao tháng 5/2019 đã tăng 40 CNY chốt phiên đạt 12.500 CNY/tấn. Giá cao su tại Singapore giao tháng 3/2019 tăng 0,1% đạt 146 US cent/kg.

Giá hàng hóa thế giới

Mặt hàng ĐVT Giá 30/1/2019 Giá 28/2/2019 28/2 so với 27/2 28/2 so với 27/2 (%)
Dầu thô WTI USD/thùng 54.09 57,29 +0,07 +0,12%
Dầu Brent USD/thùng 61.89 66,03 -0,36 -0,54%
Dầu thô TOCOM JPY/kl 40,510.00 45.220,00 +400,00 +0,89%
Khí thiên nhiên USD/mBtu 2.84 2,80 -0,01 -0,50%
Xăng RBOB FUT US cent/gallon 136.27 162,93 -0,47 -0,29%
Dầu đốt US cent/gallon 187.88 202,35 +0,19 +0,09%
Dầu khí USD/tấn 572.50 620,75 +0,25 +0,04%
Dầu lửa TOCOM JPY/kl 56,700.00 61.290,00 +330,00 +0,54%
Vàng New York USD/ounce 1,324.20 1.314,40 -1,70 -0,13%
Vàng TOCOM JPY/g 4,603.00 4.691,00 +7,00 +0,15%
Bạc New York USD/ounce 16.03 15,64 +0,01 +0,04%
Bạc TOCOM JPY/g 56.40 56,00 -0,20 -0,36%
Bạch kim USD/ounce 819.94 872,70 +1,85 +0,21%
Palađi USD/ounce 1,347.46 1.547,10 +0,72 +0,05%
Đồng New York US cent/lb 277.80 294,70 -0,10 -0,03%
Đồng LME USD/tấn 6,169.00 6.509,00 +2,50 +0,04%
Nhôm LME USD/tấn 1,910.00 1.911,00 -11,00 -0,57%
Kẽm LME USD/tấn 2,719.00 2.778,00 +33,00 +1,20%
Thiếc LME USD/tấn 20,850.00 21.650,00 +120,00 +0,56%
Ngô US cent/bushel 377.25 370,75 -3,00 -0,80%
Lúa mì CBOT US cent/bushel 515.25 459,50 -7,25 -1,55%
Lúa mạch US cent/bushel 282.50 264,00 -2,00 -0,75%
Gạo thô USD/cwt 10.63 10,63 +0,06 +0,52%
Đậu tương US cent/bushel 922.00 910,25 -6,50 -0,71%
Khô đậu tương USD/tấn 311.20 306,00 -3,20 -1,03%
Dầu đậu tương US cent/lb 30.37 30,25 +0,13 +0,43%
Hạt cải WCE CAD/tấn 481.70 469,20 -4,00 -0,85%
Cacao Mỹ USD/tấn 2,168.00 2.247,00 -66,00 -2,85%
Cà phê Mỹ US cent/lb 105.90 98,45 -0,50 -0,51%
Đường thô US cent/lb 12.73 12,78 -0,19 -1,46%
Nước cam cô đặc đông lạnh US cent/lb 120.10 117,30 +0,65 +0,56%
Bông US cent/lb 74.40 72,82 +0,46 +0,64%
Lông cừu (SFE) US cent/kg
Gỗ xẻ USD/1000 board feet 416.20 391,40 +0,80 +0,20%
Cao su TOCOM JPY/kg 179.30 202,20 +1,40 +0,70%
Ethanol CME USD/gallon 1.30 1,36 +0,01 +0,97%

Nguồn: VITIC/Bloomberg. Reuters. CafeF

Loading...