Thị trường nông sản ngày 28/1: Giá cà phê diễn biến trái chiều, giá tiêu tiếp tục giảm mạnh

0
232

Giá cà phê hôm nay ở khu vực Tây Nguyên diễn biến trái chiều. Theo đó, giá cà phê tại tỉnh Gia Lai tăng 200 đồng/kg lên 33.500 đồng/kg. Trái lại, tại Kon Tum, giá cà phê giảm 300 đồng/kg xuống 33.300 đồng/kg. Giá tiêu hôm nay giảm 500 – 1.500 đồng/kg.

Cập nhật giá cà phê

Giá cà phê hôm nay (28/1) ở khu vực Tây Nguyên diễn biến trái chiều. Theo đó, giá cà phê tại tỉnh Gia Lai tăng 200 đồng/kg lên 33.500 đồng/kg. Trái lại, tại Kon Tum, giá cà phê giảm 300 đồng/kg xuống 33.300 đồng/kg. Tính chung toàn miền, giá cà phê dao động trong khoảng 32.900 – 33.600 đồng/kg, quay đầu giảm 200 đồng/kg, theo dữ liệu từ giacaphe.com. Trong đó, giá cà phê cao nhất ở các tỉnh Đắk Lắk, thấp nhất tại Lâm Đồng.

Giá cà phê giao tại cảng TP HCM ở mức 34.300, không đổi so với cuối tuần trước.

Tỉnh /huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua Đơn vị: VNĐ/kg
LÂM ĐỒNG
— Bảo Lộc (Robusta) 32,900
— Di Linh (Robusta) 32,800
— Lâm Hà (Robusta) 32,900
ĐẮK LẮK
— Cư M’gar (Robusta) 33,700
— Ea H’leo (Robusta) 33,600
— Buôn Hồ (Robusta) 33,600
GIA LAI
— Ia Grai (Robusta) 33,300
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa (Robusta) 33,500
KON TUM
— Đắk Hà (Robusta) 33,600
HỒ CHÍ MINH
— R1 34,300

Nguồn: tintaynguyen.com

Trên thị trường thế giới, cuối phiên giao dịch hôm 23/1, giá cà phê robusta giao tháng trong tháng 3/2019 trên sàn London giảm 0,8% xuống 1.535 USD/tấn. Giá cà phê arabica giao trong tháng 3/2019 ăng 1% lên 106,3 USCent/pound.

Theo Cơ quan thống kê Canada, nhập khẩu cà phê của nước này 11 tháng năm 2018 đạt 240.712 tấn, trị giá 1,437 tỷ CAD (tương đương 1,085 tỷ USD), giảm 1,4% về lượng và giảm 6,5% về trị giá so với 11 tháng năm 2017.

11 tháng năm 2018, Canada tăng nhập khẩu cà phê rang, khử cafein (HS090122) và cà phê không rang, khử cafein (HS090112) với tốc độ tăng trưởng lần lượt ở mức 50,5% và 25,6% về lượng, và tăng 28,5% và 14,6% về trị giá.

Tuy nhiên, hai chủng loại cà phê này chỉ chiếm 1,5% và 1,4% tổng lượng nhập khẩu của Canada. Trong khi đó, nhập khẩu 2 loại cà phê chủ yếu là cà phê chưa rang, chưa khử cafein (HS090111) và cà phê rang, không khử cafein (HS090121) lại giảm so với cùng kỳ năm 2017.

Cà phê chưa rang, chưa khử cafein, đã gia công, chiếm 75% tổng lượng nhập khẩu của Canada trong 11 tháng năm 2018, đạt 180.449 tấn, trị giá 743,87 triệu CAD (tương đương 561,43 triệu USD), giảm 2,5% về lượng và giảm 13% về trị giá so với 11 tháng năm 2017.

Trong 11 tháng năm 2018, Colombia là thị trường cung cấp cà phê chưa rang, chưa khử cafein lớn nhất của Canada, đạt 56.898 tấn, trị giá 229,55 triệu USD, giảm 3,8% về lượng và giảm 15,3% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017. Brazil là thị trường cung cấp lớn thứ 2 với 44.141 tấn, trị giá 155,41 triệu USD, tăng 0,02% về lượng, nhưng giảm 9,8% về trị giá.

Việt Nam là thị trường cung lớn thứ 9 cho Canada, đạt 4.298 tấn, trị giá 11,59 triệu CAD (tương đương 8,75 triệu USD), giảm 16,8% về lượng và giảm 27,1% về trị giá. Thị phần cà phê của Việt Nam trong tổng nhập khẩu của Canada giảm từ 2,8% trong 11 tháng năm 2017, xuống 2,4% trong 11 tháng năm 2018.

Cập nhật giá hồ tiêu

Giá tiêu hôm nay ở khu vực Tây Nguyên và miền Nam tiếp tục giảm 500 – 1.500 đồng/kg. Trong đó, giá cad phê Bà Rịa – Vùng Tàu giảm mạnh nhất xuống 46.500 đồng/kg. Mức giảm phổ biến là 1.000 đồng/kg ghi nhận ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước và Đồng Nai.

Tỉnh /huyện (khu vực khảo sát) Giá thu mua Đơn vị: VNĐ/kg
ĐẮK LẮK
— Ea H’leo 46,000
GIA LAI
— Chư Sê 45,500
ĐẮK NÔNG
— Gia Nghĩa 46,000
BÀ RỊA – VŨNG TÀU
— Tiêu 46,500
BÌNH PHƯỚC
— Tiêu 46,000
ĐỒNG NAI
— Tiêu 45,000

Nguồn: tintaynguyen.com

Hiện người trồng hạt tiêu ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Nông đang phải đối mặt với tình hình dịch bệnh nghiêm trọng, nhiều diện tích hạt tiêu mất trắng gây thiệt hại nặng nề cho người dân. Theo thống kê sơ bộ của Viện Khoa học kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên – WASI, toàn vùng Tây Nguyên hiện có hơn 92.992 ha hạt tiêu tập trung chủ yếu ở các tỉnh Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông, trong đó diện tích tiêu đã đi vào kinh doanh cho thu hoạch 50.099 ha.

Tuy nhiên thống kê đến cuối tháng 12/2018, đã có hơn 3.500 ha hạt tiêu bị chết, gây thiệt hại cho nông dân hàng nghìn tỷ đồng. Hiện các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn gần 3.000 ha cây hạt tiêu đang nhiễm bệnh nên khả năng diện tích tiêu bị chết sẽ còn tăng lên.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, với điều kiện mưa lớn kéo dài trong khi hệ thống thoát nước không tốt, cây tiêu rất dễ bị thối rễ, tạo điều kiện cho nấm bệnh Phytophthora spp có sẵn trong đất xâm nhập.

Loài nấm này tấn công ở bộ rễ và phần thân nằm trong đất của cây tiêu, khiến các mầm ngừng phát triển, lá chuyển màu xanh nhạt rồi biến thành màu vàng và rụng, phần dây thân trên mặt đất chết khô.

Khi nhiễm loại nấm này, cây tiêu chết rất nhanh. Kể từ khi thấy triệu chứng lá bắt đầu héo đến khi chết chỉ kéo dài trong 1 – 2 tuần. Không những vậy, bệnh này còn dễ dàng lan rộng sang các loài cây khác.

Cập nhật giá cao su

Trên sàn TOCOM (Nhật Bản), giá cao su giao tháng 3/2019 lúc 11h05 ngày 28/1 (giờ địa phương) tăng 1,4% lên 191 yen/kg.

Ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 12/2018 đạt 173 nghìn tấn với giá trị đạt 210,5 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị xuất khẩu cao su cả năm 2018 ước đạt 1,56 triệu tấn và 2,1 tỷ USD, tăng 13,3% về khối lượng nhưng giảm 7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong tháng 12/2018, chiếm thị phần lần lượt 68%, 7% và 3% trong tổng giá trị xuất khẩu cao su. Tính chung cả năm 2018, kim ngạch xuất khẩu cao su của Việt Nam giảm hầu hết ở các thị trường chính, trừ Ấn Độ tăng mạnh 59% so với cùng kì năm 2017.

Ở chiều ngược lại, khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 12/2018 ước đạt 63 nghìn tấn với giá trị đạt 103,2 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị cao su nhập khẩu năm 2018 đạt 615,7 nghìn tấn với giá trị 1,11 tỷ USD, tăng 10,7% về khối lượng và 1,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017.

Năm thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 11 tháng đầu năm 2018 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Campuchia, Thái Lan và Đài Loan chiếm 62% thị phần.

Đức Quỳnh

Theo Kinh tế & Tiêu dùng