Báo cáo ngành hàng cao su, tháng 6/2018

0
300

I. Thế giới:

1. Thị trường cao su Ấn Độ:

Tổng cục Cao su Ấn Độ vừa hạ dự báo sản lượng cao su thiên nhiên niên vụ 2018-19 giảm khoảng 70.000 tấn so với ước tính sản lượng niên vụ 2017-18, đạt 730.000 tấn so với 800.000 tấn. Đồng thời, sản lượng cao su thiên nhiên niênvụ hiện tại chỉ tăng 0,4% so với niên vụ trước ở mức 694.000 tấn.

Trong đó, sản lượng cao su thiên nhiên Ấn Độ từ tháng 4 – 12/2017 thấp hơn so với dự báo trước đó và ghi nhận mức tăng chỉ 4,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong qu 1/2018, sản lượng cao su thiên nhiên của Ấn Độ giảm 10% so với cùng kỳ năm ngoái, chủ yếu do mưa và giá cao su thấp. Tuy nhiên, tiêu dùng và nhập khẩu cao su thiên nhiên của Ấn Độ vẫn chạm mức cao kỷ lục mới. Tiêu thụ cao su thiên nhiên của Ấn Độ tăng mạnh 6,4% lên 1.110.660 tấn trong năm tài khóa 2017-18.

Nhập khẩu cao su thiên nhiên của Ấn Độ cũng chạm mức cao kỷ lục 469.433 tấn trong năm tài khóa 2017-18, tăng 10,1% so với năm tài khóa 2016-17. Khoảng 70% lượng nhập khẩu thông qua kênh nhập khẩu trả thuế. Nhập khẩu cao su thiên nhiên của Ấn Độ tăng bất thường do diễn biến giá, tiêu dùng cao su nội địa tăng và sản xuất cao su nội địa thấp hơn dự báo.

Trước tình hình này, ngành cao su Ấn Độ đang kêu gọi chính phủ áp giá nhập khẩu tối thiểu. Đồng thời kêu gọi sử dụng thuế nhập khẩu thu được để hỗ trợ trồng cao su, thông qua mở rộng cơ chế hỗ trợ giá và tái canh. Hiện 40% tiêu dùng cao su thiên nhiên Ấn Độ đến từ nguồn nhập khẩu và tình trạng này sẽ gây tác động tiêu cực cho lợi ích của người trồng cao su.

Hiệp hội các nhà sản xuất lốp xe hơi Ấn Độ (ATMA) bày tỏ lo ngại về tình trạng mất cân bằng sản xuất – tiêu dùng cao su thiên nhiên nội địa, sau khi Tổng cục Cao su Ấn Độ công bố thâm hụt cung – cầu cao su thiên nhiên là 470.000 tấn trong niên vụ 2018-19. Điều đáng chú ý là trong 5 năm qua, thâm hụt cung – cầu cao su thiên nhiên tại Ấn Độ đã tăng mạnh, từ mức chỉ có 60.000 tấn.

Ngành sản xuất lốp xe chịu gánh nặng tài chính lớn do cao su thiên nhiên nhập khẩu bị áp thuế cao nhưng các nhà sản xuất buộc phải nhập khẩu để các nhà máy có nguyên liệu hoạt động. Trong khi nhập khẩu cao su thiên nhiên rất cần thiết để đáp ứng nhu cầu nội địa, môi trường chính sách có tính bảo hộ cao. Thuế quannhập khẩu cao su thiên nhiên lên tới 25%, cao hơn nhiều so với các nước nhập khẩu cao su thiên nhiên khác. Hơn nữa, nhập khẩu cao su thiên nhiên chỉ được thông quan và giao hàng tại 2 cảng chỉ định là JNPT và Chennai. Các rào cản phi thuế này càng khiến chi phí nhập khẩu cao su thiên nhiên và thời gian xử lý hậu cần kéo dài.

2. Thị trường cao su Tocom, Nhật Bản:

Báo cáo ngành hàng cao su, tháng 6/2018

Giá cao su kỳ hạn tại Sở Giao dịch Tokyo (TOCOM) diễn biến giảm mạnh trong tháng 6. Trong đó, thị trường suy yếu đến mức thấp trong gần 21 tháng do chịu tác động giảm giá từ thị trường cao su Thượng Hải. Kết thúc phiên giao dịch 27/6, hợp đồng benchmark tháng 11/2018 đạt 172,9 yên/kg, giảm mạnh 16,5 yên (tương đương 9,5%) so với phiên đầu tháng (1/6) ở mức 189,4 yên/kg. Tuy nhiên, trong xu thế gần đây, mức giá đóng cửa phiên 27/6 đã hồi phục từ mức thấp 171,5 yên/kg cuối phiên 25/6.

Giá cao su kỳ hạn tháng 6/2018 đáo hạn ở mức 163,4 yên/kg trong ngày thứ hai (25/6).

Các tín hiệu xung đột từ chính quyền Donald Trump về đề xuất hạn chế đầu tư nước ngoài trong các công ty công nghệ Mỹ, cùng với thông tin áp đặt thuế quan nhập khẩu mới đây làm gián đoạn nguồn cung, đẩy chứng khoán toàn cầu giảm trong ngày 25/6.

II. Việt Nam:

1. Tình hình trong nước:

Biểu 2 – Giá mủ cao su trong nước tháng 6/2018

Báo cáo ngành hàng cao su, tháng 6/2018

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, các đồn điền cao su tại Bình Phước bắt đầu khai thác mủ trở lại sau một thời gian gián đoạn. Mùa khai thác mủ cao su năm nay chỉ mới tiến hành được hơn một tháng nhưng giá cả của loại nông sản này hiện rớt liên tục khiến nông dân không khỏi lo ngại. Giá thu mua mủ cao su tại Bình Phước diễn biến giảm nhẹ trong tháng 6, từ mức 285 đồng/độ cuối tháng 5 xuống 245 đồng/độ. Tại Đồng Nai, giá cao su nguyên liệu tiếp tục duy trì mức 13.100 đ/kg.

Tính trong 6 tháng đầu năm, thị trường cao su trong nước diễn biến thiếu ổn định trong bối cảnh nhu cầu giảm và dự trữ tăng lên của các nước tiêu thụ cao su hàng đầu thế giới. Giá mủ tại Đồng Nai tăng khoảng 2.000 đ/kg, còn tại Bình Phước tăng từ 100 – 150 đồng/độ.

2. Dự báo tình hình xuất nhập khẩu cao su tháng 6/2018:

Theo Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), Bộ NN & PTNT, ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 6 năm 2017 đạt 118 nghìn tấn với giá trị đạt 169 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt 560 nghìn tấn và 816 triệu USD, tăng 16,1% về khối lượng nhưng giảm 8,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá cao su xuất khẩu bình quân 5 tháng đầu năm 2018 đạt 1.463 USD/tấn, giảm 25,3% so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt 61,3%, 6,4% và 3,9%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cao su trong 5 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là Ấn Độ (75%) và Indonesia (13,2%).

Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 6/2018 đạt 50 nghìn tấn với giá trị đạt 96 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị cao su nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2018 đạt 294 nghìn tấn với giá trị 536 triệu USD, tăng 20,2% về khối lượng nhưng giảm 0,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 5 tháng đầu năm 2018 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia chiếm 51,5% thị phần. Trong 5 tháng đầu năm 2018, giá trị cao su ở một số thị trường nhập khẩu chính giảm. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất là

Nga (-37,3%), Trung Quốc (-25,6%) và Nhật Bản (-13,8%). Ngược lại, một số thị trường có giá trị nhập khẩu tăng mạnh là Malaixia (+51,3%) và Indonesia (+19,3%).

Khuyến nghị: Giá cao su thế giới và trong nước đang giảm do nhu cầu tiêu thụ giảm và mức dự trữ của các nước tiêu thụ tăng lên. Mùa khai thác mủ cao su năm nay mới bắt đầu nhưng giá đã rớt liên tục khiến nông dân không khỏi lo ngại. Khi giá bán mủ nước đạt từ 300 đồng/độ thì họ mới có được mức lãi để đảm bảo trang trải cuộc sống.

Nguyễn Lan Anh

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo Thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), Bộ Nông nghiệp & PTNT

2. CSDL giá nông sản PMARD của CIS

3. Tin Reuters

Website: VRA, TTXVN, Vinanet, Vneconomy

Loading...