Báo cáo ngành hàng cao su tháng 5/2018

0
876
Advertisement

I. Thế giới:

1. Thị trường cao su thế giới:

Theo Hiệp hội các nước sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC), trong quý 1/2018, nhu cầu cao su thiên nhiên toàn cầu tăng 7,6% lên 3,361 triệu tấn, trong khi đó sản lượng tăng 3,3% lên 3,152 triệu tấn (so với 3,051 triệu tấn quý 1 năm ngoái) do tăng ở Trung Quốc, Philippines, Thái Lan và Campuchia. Dự báo tổng cung cao su thế giới năm 2018 sẽ đạt 14,3 triệu tấn, tăng 7,2% so với 13,341 triệu tấn năm 2017.

Với tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2017 đạt 3,8% – cao nhất kể từ 2011, hy vọng nhu cầu sẽ tăng thêm nữa để kích thích giá cao su thiên nhiên tăng theo. Những hành động như các nước Đông Nam Á (Thái Lan, Indonesia và Malaysia) nỗ lực hạn chế xuất khẩu cao su thiên nhiên hồi đầu năm nay cũng có thể góp phần kéo giá cao su thiên nhiên tăng trở lại.

Giá dầu thô đang tiến dần tới mốc 80 USD/thùng và cao su tổng hợp bị giảm dần sức hấp dẫn đối với các ngành sử dụng nguyên liệu cao su, trong đó có các hãng sản xuất lốp xe, thúc đẩy việc tăng cường sử dụng cao su thiên nhiên. Năm 2011, khi giá dầu thô thế giới vượt mức 100 USD/thùng, giá cao su thiên nhiên tại Ấn Độ cũng lên cao kỷ lục 243 Rupee (3,57 USD)/kg. Nhưng kể từ đó, giá liên tiếp giảm, xuống chỉ 95 Rupee (1,40 USD)/kg vào năm 2015. Gần đây, giá cao su thiên nhiên tại Ấn Độ đang có xu hướng tăng trở lại, vượt mức 120 Rupee (1,76 USD)/kg sau khi dầu thô lên mức cao nhất kể từ 2014. Việc Mỹ rút khỏi thỏa thuận hạt nhân Iran dự báo sẽ còn khiến cho thị trường dầu mỏ nóng thêm nữa.

Về những yếu tố khác tác động lên giá cao su thiên nhiên, chuyên gia củaTổng cục Cao su Ấn Độ (Rubber Board of India) cho biết, nhu cầu cao su thiên nhiên của Trung Quốc và tỷ giá hối đoái cũng có vai trò quan trọng quyết định giá cao su thiên nhiên. Trung Quốc là nước tiêu thụ cao su thiên nhiên lớn nhất thế giới, sử dụng khoảng 40% tổng sản lượng toàn cầu. Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng với tốc độ cao và dựa vào xuất khẩu, kinh tế toàn cầu suy yếu đã buộc Trung Quốc phải dần chuyển đổi nền kinh tế sang dựa vào tiêu thụ nội địa. Do đó, nhu cầu các loại hàng hóa, trong đó có cao su, đã chậm lại. Tuy nhiên nhu cầu từ thị trường này đang ổn định dần trong bối cảnh kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng ổn định trong mấy quý vừa qua.

Tại Ấn Độ, tỷ giá đồng Rupee so với USD cũng có thể giúp đẩy tăng giá cao su thiên nhiên nội địa, vì cao su nhập khẩu trở nên kém hấp dẫn hơn. Các nhà sản xuất Ấn Độ sẽ buộc phải chuyển hướng tới các nhà sản xuất trong nước để có đủ nguyên liệu đáp ứng nhu cầu, và điều đó sẽ có lợi cho người trồng cao su nước này. Tuy nhiên, cao su khối tại các thị trường Đông Nam Á hiện vẫn rẻ hơn 25 – 30 Rupee (0,37 – 0,44 USD)/kg so với cao su tờ Ấn Độ. Do đó, cao su khối vẫn chiếm khoảng 70% tổng nhập khẩu cao su của các công ty sản xuất lốp xe Ấn Độ.

Theo Tổng Thư ký Hiệp hội Cao su Ấn Độ, nền kinh tế lớn nhất thế giới – Mỹ – sẽ tiếp tục tăng trưởng tốt, nhu cầu tiêu thụ các các sản phẩm như ô tô dự báo sẽ tăng. Khi giá dầu thô tăng, cao su tổng hợp sẽ giảm sức hấp dẫn trong mắt các nhà sản xuất, và cao su thiên nhiên sẽ trở nên hấp dẫn hơn. Kinh tế Ấn Độ tăng trưởng cao cũng đã khiến nhu cầu cao su thiên nhiên tại đây tăng mạnh trong mấy năm qua, vượt mức 1 triệu tấn. Giá cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới vẫn thấp hơn so với tại Ấn Độ nên khối lượng nhập khẩu khá lớn. Tuy nhiên đối với ngành cao su Ấn Độ, nếu giá cao su thiên nhiên dưới 120 Rupee (1,76 USD)/kg thì vẫn rất khó khăn cho người trồng cao su để có thể đủ trang trải chi phí sản xuất. Giá cao su cần phải lên mức 150 Rupee (2,20 USD) mới đủ để người trồng duy trì sản xuất.

2. Thị trường cao su Tocom, Nhật Bản:

Báo cáo ngành hàng cao su tháng 5/2018

Biểu 1 – Diễn biến giá cao su thế giới tháng 5/2018

Giá cao su kỳ hạn tại Sở Giao dịch Tokyo (TOCOM) diễn biến tăng trong tháng 5. Kết thúc phiên giao dịch 23/5, hợp đồng benchmark tháng 10/2018 đạt 196,5 yên/kg, giảm 2,5 yên so với phiên trước, nhưng tăng 3,6 yên (tương đương 1,9%) so với phiên đầu tháng, do đồng yên tăng giá. Trong tháng, hợp đồng benchmark tháng 10/2018 đã chạm mức cao trong 4 tháng, đạt 200 yên/kg vào ngày 21/5 trong bối cảnh kỳ vọng căng thẳng thương mại giữa Bắc Kinh và Washington sẽ giảm bớt.

II. Việt Nam:

1. Tình hình trong nước:

Biểu 2 – Giá mủ cao su Đồng Nai tháng 5/2018

Báo cáo ngành hàng cao su tháng 5/2018

Theo hệ thống cung cấp giá tại địa phương, giá cao su nguyên liệu tại Đồng Nai giảm nhẹ so với tháng 4, với giá mủ cao su giảm 100 đ/kg xuống 13.100 đ/kg. Thị trường cao su Bình Phước đang chững vì cây cao su bước vào thời kỳ rụng lá, hoạt động khai thác mủ tạm dừng.

Tính trong 5 tháng đầu năm, thị trường cao su trong nước diễn biến trầm lắng, giá mủ tăng khoảng 2.000 đ/kg.

2. Tình hình xuất nhập khẩu cao su tháng 5/2018:

Theo Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 5 năm 2017 đạt 93 nghìn tấn với giá trị đạt 133 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 5 tháng đầu năm 2018 ước đạt 424 nghìn tấn và 620 triệu USD, tăng 17,4% về khối lượng nhưng giảm 12,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Giá cao su xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm 2018 đạt 1.469 USD/tấn, giảm 27,1% so với cùng kỳ năm 2017. Trung Quốc, Ấn Độ, và Malaysia là 3 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2018, chiếm thị phần lần lượt 58,1%, 7,5% và 4,6%. Các thị trường có giá trị xuất khẩu cao su trong 4 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh là Ấn Độ (gấp 2,3 lần) và Indonesia (16%).

Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 5/2018 đạt 46 nghìn tấn với giá trị đạt 86 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị cao su nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2018 đạt 234 nghìn tấn với giá trị 423 triệu USD, tăng 17% về khối lượng nhưng giảm 5.5% về giá trị so với cùng kỳ năm 2017. Bốn thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 4 tháng đầu năm 2018 là Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan và Campuchia chiếm 46,2% thị phần. Trong 4 tháng đầu năm 2018, giá trị cao su ở một số thị trường nhập khẩu chính giảm. Trong đó, thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất là Nga (-26,6%), Hàn Quốc (-20,9%) và Hoa Kỳ (-16,9%). Ngược lại, một số thị trường có giá trị nhập khẩu tăng mạnh là Malaixia (+72%) và Indonesia (+11,1%).

Nguyễn Lan Anh

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo Thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), Bộ Nông nghiệp & PTNT

2. CSDL giá nông sản PMARD của CIS

3. Tin Reuters

Website: VRA, TTXVN, Vinanet, Vneconomy

Nguồn: Trung tâm XTTM Bộ NN&PTNT