“Sản phẩm cao su thiên nhiên thương hiệu VRG là bước đi đột phá”

0
123
Hội nghị Năng lực chế biến và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cao su thiên nhiên (CSTN) thương hiệu VRG tổ chức vừa qua cho thấy sự quyết tâm của VRG và các đơn vị thành viên trong việc xây dựng thành thương hiệu mạnh. Chia sẻ với PV Tạp chí Cao su VN, Phó TGĐ VRG Trần Công Kha cho rằng, sản phẩm CSTN thương hiệu VRG là một bước đi đột phá, chính xác và đúng hướng của Tập đoàn.

Phó TGĐ VRG Trần Công Kha (bìa trái) cũng lãnh đạo VRG tại Hội nghị Năng lực chế biến và nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cao su thiên nhiên thương hiệu VRG. Ảnh: Văn Vĩnh.

Thưa ông, từ trước đến nay, mỗi đơn vị trực thuộc VRG đều có thương hiệu riêng của mình, vậy xuất phát từ đâu VRG xây dựng “sản phẩm CSVN mang thương hiệu VRG” nói chung?

Ông Trần Công Kha: VRG hiện có khoảng 50 nhà máy chế biến mủ cao su với công suất thiết kế 479.000 tấn/năm. Sản phẩm CSTN của VRG đã có uy tín trên thị trường trong và ngoài nước, với việc xuất khẩu sang gần 70 quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, theo đánh giá của khách hàng, chất lượng cao su Việt Nam nói chung và VRG nói riêng, ngay cả giữa các nhà máy của VRG chưa thật sự đồng đều và chưa có thương hiệu thống nhất. Bên cạnh đó, các sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn chung.

Trong khi đó nhu cầu sử dụng CSTN khá cao là trong lĩnh vực sản xuất săm lốp (chiếm 70% lượng tiêu thụ CSTN trên toàn cầu) lại có những yêu cầu riêng biệt rất chặt chẽ về chất lượng từ nguyên liệu chế biến cho đến các chỉ tiêu chất lượng thành phẩm. Do đó, với sản phẩm hiện đang sản xuất theo TCVN 3769:2016 chỉ mới là điều kiện cần đối với sản phẩm làm ra, điều kiện đủ đó là phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng bằng sản phẩm sản xuất theo TCCS 112:2017 – sản phẩm CSTN thương hiệu VRG.

Lắng nghe và thấu hiểu những chia sẻ của khách hàng, dựa trên phương châm cung cấp sản phẩm chất lượng và dịch vụ vượt trội, VRG đã xây dựng bộ tiêu chuẩn và giới thiệu ra thị trường sản phẩm cao su thương hiệu VRG theo TCCS 112, nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của người tiêu thụ. Tập đoàn xây dựng, điều chỉnh các quy trình sản xuất từ vườn cây đến nhà máy, tuân thủ nghiêm ngặt các bước trong quy trình sản xuất, kiểm soát nguồn nguyên liệu theo quy trình “SẠCH” TCCS 111. Cải tiến quy trình, công nghệ chế biến từ truyền thống chuyển sang quy trình mới đạt TCCS 112.

Sản phẩm CSTN thương hiệu VRG là một bước đi đột phá, chính xác và đúng hướng của Tập đoàn. Vì nhiều năm nay, các công ty thành viên thuộc VRG đều sở hữu một thương hiệu, tuy nhiên, sức lan tỏa của mỗi thương hiệu khác nhau. Với quy mô sản xuất ngày càng tăng, việc xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu sản phẩm CSTN thống nhất trong toàn Tập đoàn là điều kiện tiên quyết nhằm tập trung sức mạnh, tăng khả năng cạnh tranh, tiêu thụ ổn định và bền vững.

Với yêu cầu ngày càng cao về mặt chất lượng của các nhà tiêu thụ CSTN trên thế giới, nhất là các hãng sản xuất vỏ xe có yêu cầu tiêu chuẩn riêng biệt, thì việc VRG cung ứng sản phẩm CSTN thương hiệu VRG là một điểm mới ấn tượng, mở rộng cánh cửa tiêu thụ. Chính vì vậy, sản phẩm CSTN thương hiệu VRG được các đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn đồng lòng ủng hộ và quyết tâm xây dựng, phát triển thành thương hiệu mạnh.

Xin ông cho biết kế hoạch phát triển sản phẩm thương hiệu VRG trong thời gian tới?

Ông Trần Công Kha: Với phương châm “bán sản phẩm thị trường cần chứ không phải bán sản phẩm mình có”, lãnh đạo VRG đã đặt nhiệm vụ quan trọng của Tập đoàn thời gian tới đó là: Xây dựng và phát triển sản phẩm cao su thương hiệu VRG thành thương hiệu mạnh. Năm 2018, toàn VRG lập kế hoạch sản xuất cao su thương hiệu VRG với số lượng 71.000 tấn cao su khối các loại, chủng loại SVR 10 chiếm 68%. Trong đó khu vực Đông Nam bộ: 19.000 tấn, Tây Nguyên: 5.000 tấn, Lào và Campuchia: 47.000 tấn. Phấn đấu năm 2019 toàn bộ các công ty thành viên có sản phẩm CSTN mang thương hiệu VRG của Tập đoàn và năm 2020, 50% sản phẩm mang thương hiệu VRG.

Các giải pháp đầy mạnh tiêu thụ cao su thương hiệu VRG trong thời gian tới, cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục rà soát và thực hiện các biện pháp giảm giá thành để đảm bảo sản xuất vẫn hiệu quả trong điều kiện giá bán vẫn ở mức phù hợp với tình hình thị trường.

Thứ hai, nâng cao công tác quản lý chất lượng sản phẩm đáp ứng theo TCCS 112: 2017. Tiếp tục chuyển đổi đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và yêu cầu của khách hàng như tăng tỷ lệ SVR 10, SVR CV50/60, RSS, giảm tỷ lệ SVR 3L. Sử dụng logo, tem nhãn thống nhất của VRG.

Thứ ba, tiếp tục củng cố duy trì quan hệ tốt đẹp với khách hàng truyền thống, đàm phán với các khách hàng tiềm năng nhằm tăng thêm lượng ký hợp đồng xuất khẩu dài hạn.

Thứ tư, tiếp tục nỗ lực tăng lượng tiêu thụ cao su nội địa cung cấp nguyên liệu cho các công ty công nghiệp cao su trong nước. Dự kiến, tiêu thụ nội địa khoảng 23.000 tấn cao su trong năm 2018 và mức tiêu thụ sẽ tăng lên 43.000 tấn vào năm 2020.

Thứ năm, tổ chức các hội nghị giới thiệu sản phẩm cao su thương hiệu VRG tới khách hàng. Tích cực mở rộng thị trường xuất khẩu, hợp tác chặt chẽ với cơ quan tham tán thương mại các nước để tìm kiếm khách hàng mới, thị trường mới, tăng cường xúc tiến thương mại, tăng cường tiếp thị…

Trân trọng cảm ơn ông!

TUỆ LINH (thực hiện)

Theo Tạp chí Cao su Việt Nam

Loading...