Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

1
494
Advertisement

Cao su đi dễ khó về…

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Những số liệu được công bố từ Tổng Cục Hải Quan về xuất khẩu cao su đang chỉ ra một thực trạng kéo dài với ngành này. Đó là các doanh nghiệp cao su cứ xuất khẩu càng nhiều, thì số tiền bán thu về lại càng ít.

Dù thuế xuất khẩu đã được điều chỉnh về 0% nhưng vì nguồn cung trong nước tăng lên, trong khi nguồn cầu nhập hàng Việt Nam giảm, làm giá cao su đứng ở mức thấp và giảm liên tục chính là nguyên nhân khiến người nông dân trồng cao su “khóc ròng”.

Tổng giá trị xuất khẩu giảm 1 nửa, giá giảm còn 1/3, ngành cao su mất 3 tỷ USD

Các doanh nghiệp cao su đã lần đầu tăng sản lượng xuất khẩu lên trên 1.000 tấn vào năm 2012, và duy trì đà tăng chậm 5% – 6% trong các năm sau đó. Cho đến năm 2015, nước ta đã xuất khẩu 1137,4 tấn cao su.

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Tuy nhiên, nếu như năm 2011, tổng giá trị xuất khẩu cao su thu về là 3,2 tỷ USD thì đến năm 2015 con số này chỉ còn là 1,5 tỷ USD. Mức giảm lên đến trên 10%/năm, cá biệt, năm 2014, mức giảm này lên tới 28,41%.

Chuyện gì đã xảy ra ? Thực tế thời gian 5 năm này cũng là lúc chứng kiến đà giảm không phanh của giá cao su xuất khẩu.

Sau khi đạt đỉnh năm 2011, mức giá xuất khẩu cao su bắt đầu cắm đầu giảm. Đến năm 2015, giá một tấn cao su xuất khẩu chỉ còn 1/3 so với lúc đạt đỉnh. So với năm 2011, ngành cao su đã bị bốc hơi đến gần 3 tỷ USD.

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Hội đồng Doanh nghiệp cao su Đông Nam Á (ARBC) hồi tháng 9/2015 từng lên tiếng cảnh báo về hiện tượng giá giảm này khi nhận đinh rằng “đời sống các hộ nông dân có thu nhập phần lớn từ cây cao su tại Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn”.

Hệ quả của thời kỳ cao su phát triển nóng

Ngành cao su từng chứng kiến thời hoàng kim trong giai đoạn 2006 – 2011 khi giá xuất khẩu không chỉ tại Việt Nam mà còn tại nhiều nước khu vực đã liên tục đạt đỉnh. Vào lúc đó, người nông dân đua nhau từ bỏ hàng trăm hecta điều, cà phê, rừng tự nhiên để chuyển sang trồng cao su.

Tiền liên tục được đổ vào cao su, không chỉ từ các cá nhân mà còn các các công ty nông nghiệp, các công ty bất động sản, các ông lớn ngành vận tải, tài chính. Còn nhớ vào thời điểm đó, nhiều công ty đã mở hàng trăm dự án trồng cao su khắp Tây Nguyên, miền Đông Nam Bộ và cả miền Bắc rồi đầu tư sang Lào, Campuchia.

Chỉ trong 10 năm, diện tích cao su gieo trồng Việt Nam đã tăng hai lần lên gần 1000 hecta. Cao su dường như cũng trở thành một trào lưu của các nền nông nghiệp các nước châu Á khi diện tích trồng mới tại nhiều quốc gia cũng tăng lên nhanh chóng .

Chỉ trong vòng 12 năm từ 2000 -2012, diện tích cao su trồng mới tại 11 quốc gia châu Á đã lên đến tổng cộng 3,5 triệu ha.

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Điều gì đến cũng phải đến, nguồn cung tăng quá nhanh đã khiến cho giá cao su lao dốc.

Ở Việt Nam, giá mủ cao su bắt đầu giảm từ tháng 1/2011 sau khi đạt đỉnh 5.000 USD/tấn. Những quan sát từ số liệu cho thấy tuy diện tích gieo trồng và thu hoạch vẫn tăng nhưng đã có tốc độ tăng ngày càng chậm dần. Cao su ngày nào được trồng lên nay bị chặt đi ngày càng nhiều để trồng lại điều, khoai mì…

Chưa dừng lại ở đó, tuy sản lượng khai thác cao su theo các báo cáo vẫn tăng đều đặn nhưng năng suất cao su Việt Nam đã bắt đầu “đi ngang” kể từ năm 2009. Đến năm 2014, sản lượng khai thác chững lại và năng suất cũng giảm. Tuy chưa được công bố chính thức nhưng năng suất vào năm 2015 được dự báo sẽ tiếp tục giảm so với năm 2014.

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Hệ quả, các doanh nghiệp ngành này đi vào điêu đứng khi các chỉ số doanh thu, lợi nhuận giảm liên tiếp trong nhiều năm. Hầu như các doanh nghiệp này đều trong cảnh tiền bán cao su ít và không đủ chi trả chi phí hoạt động khi sở hữu những diện tích trồng cao su khá lớn.

Xuất khẩu phụ thuộc Trung Quốc cũng là nguyên nhân ?

Thị trường cao su lâm vào khó khăn, theo nhiều chuyên gia, còn bởi lý do các thị trường chính là Malaysia, Ấn Độ, đặc biệt là Trung Quốc, thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất thế giới, suy giảm về nhu cầu nhập hàng Việt Nam.

Cao su Việt Nam đa phần được xuất khẩu để sản xuất săm lốp xe và được tiêu thụ đến 70% ở các nước châu Á. Năm 2015 vừa qua, theo thống kê, cứ 100 tấn cao su xuất khẩu thì có đến 50 tấn là được xuất sang Trung Quốc, 15 tấn được xuất sang Malaysia và gần 8 tấn xuất sang Ấn Độ.

Với tỷ lệ lớn như vậy, kinh tế Trung Quốc suy giảm đồng nghĩa với ngành công nghiệp xe hơi nước này suy giảm, dẫn đến nhu cầu sản xuất săm lốp xe giảm. Từ đó, lượng cao su xuất khẩu Việt Nam sang Trung Quốc cũng giảm và ngành cao su nước ta gặp khó khăn.

Nỗi buồn cao su: 2011 trai tráng, nay thì bủng beo

Ông Vũ Hoàng An, tổng thư ký Hiệp hội Cao su Việt Nam từng nhận định rằng: “Khi Trung Quốc, thị trường xuất khẩu cau su lớn nhất của Việt Nam, giảm nhu cầu, các nhà xuất khẩu Việt Nam sẽ bị động vì rất khó bán sang các thị trường khác”.

Năm ngoái, nhà phân tích Hiroyuki Nakayama của hãng Phillip Securities cũng nhận định giá cao su sẽ tiếp tục giảm bởi sự suy giảm của nền kinh tế Trung Quốc mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu. Như vậy, có vẻ như ngày trở lại đỉnh 2011 của cao su Việt Nam sẽ vẫn còn khá xa.