Báo cáo ngành hàng cao su tháng 3/2016

0
1985
Advertisement

I. Thị trường thế giới:

1. Tình hình sản xuất cao su thế giới:

Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội các nhà sản xuất cao su thiên nhiên (ANRPC), trong 2 tháng đầu năm nay, sản lượng cao su của các nước thành viên tăng nhẹ 0,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, sản lượng cao su Thái Lan tăng 3%, ngoài ra Sri Lan-ca, Cam-pu-chia, Phi-lip-pin cũng tăng so với cùng kỳ. Trong khi In-đô-nê-xia, Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ và Ma-lai-xia lại có xu hướng giảm. ANRPC cũng dự báo sản lượng cao su thiên nhiên trong năm 2016 sẽ tăng nhẹ 1,2% so với năm 2015.

Theo ANRPC, sản xuất cao su thiên nhiên của Trung Quốc trong năm 2016 sẽ giảm 0,5% so với năm 2015. Báo cáo cũng chỉ ra rằng trong năm 2015 sản lượng cao su thiên nhiên của Trung Quốc đã giảm 5,5% so với năm 2014. Cao su nhập khẩu vào Trung Quốc, bao gồm cả cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp trong năm nay sẽ giảm khoảng 3,9% so với năm 2015, trong khi tiêu thụ ước tính hàng năm tăng nhẹ 0,6%.

ANRPC ước tính sản lượng cao su thiên nhiên của Việt Nam năm 2015 đạt hơn 1 triệu tấn, tăng 6,6% so với năm 2014, đây là lần đầu tiên sản lượng cao su Việt Nam chạm mốc 1 triệu tấn. Trong năm 2016, dự báo sản lượng cao su của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng 3,2%. Ước tính tiêu thụ cao su của Việt Nam năm 2016 sẽ tăng 15%, nhập khẩu cao su thiên nhiên lại giảm 40,7%.

Theo dữ liệu phân tích của Công ty Freedonia Group, nhu cầu thế giới với cao su sẽ tăng 3,9% mỗi năm đến năm 2019, phần lớn là do sự tăng trưởng trong ngành sản xuất lốp xe trên thế giới. Các nhà phân tích của Freedonia Group cho rằng, khu vực châu Á – Thái Bình Dương sẽ vượt tốc độ tăng trưởng toàn cầu và tăng 4,8% về nhu cầu cao su, cao gấp đôi chỉ số dự kiến của khu vực Bắc Mỹ và vượt trội gấp năm lần so với mức tăng trưởng nhu cầu ở khu vực Tây Âu. Dự báo đến năm 2019, các quốc gia phát triển nhanh nhất trên thị trường cao su là Việt Nam, In-đô-nê-xia, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc và Ma-lai-xia.

Các nhà xuất khẩu cao su của In-đô-nê-xia đã nhất trí cắt giảm xuất khẩu trong giai đoạn từ tháng 3 – 8/2016. Việc cắt giảm này để phù hợp với thỏa thuận xuất khẩu (AETS) của ba nước thành viên Hiệp hội Cao su Quốc tế (ITRC) và cũng nhằm vực dậy thị trường cao su thiên nhiên thông qua phương thức cắt giảm nguồn cung trên thị trường quốc tế. Chính phủ In-đô-nê-xia đã yêu cầu các công ty kinh doanh cao su trong nước thực hiện theo đề án này. Kế hoạch AETS năm 2016 được thảo thuận giữa ba nước sản xuất cao su lớn nhất thế giới là Thái Lan, In-đô-nê-xia và Ma-lai-xia, nhằm điều tiết giảm nguồn cung cao su thiên nhiên trên thị trường thế giới. Theo đó, các nước thành viên ITRC sẽ giảm xuất khẩu hơn 615.000 tấn cao su tự nhiên trong vòng 6 tháng tới, trong đó Thái Lan giảm hơn 324.000 tấn, In-đô-nê-xia giảm 239.000 tấn và Ma-lai-xia giảm hơn 52.200 tấn. In-đô-nê-xia hy vọng xuất khẩu cao su tự nhiên giảm nhưng mức tiêu thụ trong nước của mặt hàng này sẽ tăng lên.

Ấn Độ đã bắt đầu điều tra chống bán phá giá các loại cao su được sử dụng trong sản xuất hàng hóa làm từ da của Liên minh châu Âu (EU), Hàn Quốc và Thái Lan theo khiếu nại của Công ty Reliance Industries và Công ty Synthetic Rubber Ấn Độ. Động thái này nhằm mục đích bảo vệ các doanh nghiệp sản xuất trong nước trước vấn nạn cao su nhập khẩu giá rẻ. Tổng vụ Chống bán phá giá và chống trợ cấp Ấn Độ (DGAD) trực thuộc Bộ Thương mại và Công nghiệp Ấn Độ đã bắt đầu tiến hành điều tra sản phẩm cao su Styrene Butadiene (SBR) nhập khẩu thuộc series 1500 và 1700 từ EU, Hàn Quốc và Thái Lan. DGAD cũng cho biết đã tìm thấy đầy đủ bằng chứng chứng minh các sản phẩm tương tự của Trung Quốc bán phá giá. SBR được sử dụng chủ yếu trong giày dép, vải tráng cao su, lốp xe, băng chuyền, ống nhựa, giày, ống nước và phụ tùng ô tô.

2. Thị trường cao su Tocom, Nhật Bản:clip_image004[4]

Báo cáo ngành hàng cao su tháng 3/2016

Thị trường cao su kỳ hạn tại Sở Giao dịch hàng hóa Tokyo (Tocom), Nhật Bản diễn biến tăng trong tuần đầu tháng 3, giảm mạnh vào giữa tháng và hồi phục trở lại vào cuối tháng. Đầu tháng, giá cao su tăng 6 phiên liên tiếp do được hậu thuẫn bởi sự hồi phục của giá dầu thế giới. Trong đó, hợp đồng benchmark giao tháng 8/2016 cuối phiên 8/3 đạt 180,8 Yên/kg, tăng tổng cộng 23,8 Yên so với phiên 1/3, và tăng 1,7 Yên so với phiên trước (7/3). Với kết quả này, giá cao su Tocom đã tăng gần 28% từ mức thấp hồi tháng 1/2016 và tháng 2/2016, lên mức cao nhất 6,5 tháng do lo ngại tăng trưởng chậm chạp tại nền kinh tế suy yếu Trung Quốc.

Tuy nhiên, các hợp đồng cao su kỳ lao dốc ngay sau khi đạt mức cao trong 6 tháng rưỡi, nguyên nhân chủ yếu là do giá dầu thế giới lại quay đầu giảm mạnh, kéo theo sự sụt giảm hàng hóa thế giới. Giá dầu giảm do lo ngại thị trường 6 tuần hồi phục đã vượt khỏi các nguyên tắc cơ bản, do dự trữ dầu thô Mỹ tiếp tục củng cố và Iran ít quan tâm đến việc đóng băng sản lượng của các nước lớn. Kết thúc phiên giao dịch 15/3, cao su hợp đồng benchmark giao tháng 8/2016 tại thị trường Tocom chỉ đạt 167,7 Yên/kg, giảm 13,1 Yên so với mức cao đạt được hôm 8/3 là 180,8 Yên/kg. Mức giá đóng cửa phiên 15/3 là mức thấp nhất trong 2 tuần qua.

Xu hướng tăng đã trở lại trên thị trường cao su kỳ hạn Tocom trong tuần qua, với yếu tố nâng đỡ duy nhất là đồng yên giảm giá. Đồng đô la Mỹ tăng mạnh so với đồng yên Nhật Bản sau bình luận của các quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Đồng yên suy yếu khiến các tài sản mua bằng đồng yên Nhật Bản đắt hơn khi mua bằng tiền tệ khác. Kết thúc phiên giao dịch 22/3, hợp đồng benchmark giao tháng 8/2016 đạt mức cao nhất trong 2 tuần, ở mức 180,4 yên/kg, tăng 8,8 yên so với giá đóng cửa phiên đầu tuần trước (14/3). Giá cao su tăng gần 6% vào tuần trước, đạt mức cao nhất kể từ ngày 7/3, ở mức 181,5 yên/kg.

Cao su đã bước vào thời kỳ tăng giá sau khi ba nước xuất khẩu cao su lớn nhất thế giới Thái Lan, In-đô-nê-xia và Ma-lai-xia chính thức cắt giảm xuất khẩu cao su thiên nhiên tổng cộng 615.000 tấn trong sáu tháng, bắt đầu từ tháng 3. Thái Lan, Indonesia và Malaysia nắm giữ khoảng 67% nguồn cung cao su toàn cầu. Việc ba nước này hợp tác cắt giảm xuất khẩu đã tác động tích cực đối với thị trường cao su. Ngoài việc cắt giảm xuất khẩu, Thái Lan cũng nhất trí mua cao su của nông dân với giá cao hơn giá của thị trường. Hãng tin Bloomberg ghi nhận, giá cao su giao kỳ hạn ở thị trường Tocom đã tăng 22% tính từ mức thấp nhất trong sáu năm qua vào ngày 12/1. Mức tăng này đáp ứng định nghĩa chung về một thị trường tăng giá (bull market). Trong khi đó, tại thị trường Thượng Hải ngày 7/3, giá cao su thiên nhiên SC5 giao tháng 5/2016 cũng tăng lên mức 11.665 nhân dân tệ (1.790 đô la Mỹ)/tấn, tăng 595 nhân dân tệ so với phiên trước đó. So với mức giá thấp nhất trong 7 năm qua vào ngày 12/1, giá cao su thiên nhiên SC5 ở Thượng Hải đã tăng 21%.

II. Việt Nam:

1. Tình hình trong nước:

Giá cao su trong nước diễn biến tăng trong tháng 3, cùng với xu hướng tích cực trên thị trường cao su thế giới. Cao su thành phẩm tại Bình Phước, Bình Dương, Tây Ninh tăng cụ thể như sau: cao su SVR 3L tăng từ 26.500 đ/kg (2/3) lên 30.500 đ/kg (22/3); cao su SVR10 tăng từ 26.100 đ/kg lên 30.100 đ/kg.

Báo cáo ngành hàng cao su tháng 3/2016

clip_image006[6]Tính trong quý I/2016, giá cao su thành phẩm trong nước diễn biến theo xu hướng tăng 5.600 đ/kg, với cao su SVR 3L tăng từ 24.900 đ/kg lên 30.500 đ/kg; cao su SVR10 tăng từ 24.500 đ/kg lên 30.100 đ/kg. Các đồn điền cao su ở Bình Phước đang trong giai đoạn hạn chế khai thác mủ do mùa đông đến cây cao su rụng lá.

Theo thông lệ, thời điểm đầu mùa khô khi ngành cao su tạm ngưng khai thác thì giá mủ cao su trên thị trường sẽ tăng. Tuy nhiên trong 3 tháng đầu năm 2016, giá mủ cao su vẫn thấp hơn mức giá bình quân của năm 2015. Đặc biệt, vùng Tây Nguyên giá còn thấp hơn so với vùng Đông Nam bộ do đặc thù địa lý xa cảng, xa thị trường giao dịch.

Từ đầu năm đến nay giá mủ cao su trong nước liên tục giảm, hiện chỉ còn 8.400 đ/kg đối với mủ tạp và trên 28.000 đ/kg đối với mủ đã qua sơ chế. Nguyên nhân khiến giá mủ cao su trong nước hạ sâu là vì giá xuất khẩu giảm mạnh. Cụ thể, năm 2015, giá xuất khẩu mủ cao su qua sơ chế đạt khoảng 30,5 triệu đồng/tấn, thì 2 tháng đầu năm 2016 đã giảm gần 2,5 triệu đồng/tấn, xuống còn hơn 28 triệu đồng/tấn. Với giá cao su như hiện nay, nhiều nơi người dân đã bỏ cây cao su chuyển sang trồng cây khác có giá trị hơn. Đây là thời điểm giá mủ cao su xuống thấp nhất trong vòng gần 10 năm qua, giá mủ cao su hiện chỉ bằng trên 30% so với năm 2011.

2. Tình hình xuất nhập khẩu:

Nhu cầu của thị trường Trung Quốc đối với mặt hàng nguyên liệu cao su thiên nhiên hiện nay vẫn còn rất yếu. Cuối năm 2015, hàng trăm xí nghiệp sản xuất săm lốp ô tô quy mô nhỏ phải đóng cửa do không tiêu thụ được sản phẩm. Điều đó đã kéo theo nhiều doanh nghiệp và thương gia chuyên nhập khẩu cao su thiên nhiên phải tạm dừng hoạt động dẫn đến nhu cầu về mặt hàng cao su tương đối thấp. Đầu tháng 3/2016, tại các cửa khẩu phía Bắc có những giao dịch nhỏ lẻ, với các lô hàng từ 50 – 80 tấn. Những thương vụ này được giao hệ chính ngạch. Sản lượng giao nhận cả tuần ở toàn tuyến biên giới phía Bắc đạt 500 tấn. Giá cao su xuất khẩu đang ở mức thấp, với cao su hỗn hợp loại I có giá là 7.600 NDT/tấn; loại II là 7.500 NDT/tấn. Xuất nhập khẩu cao su tại cửa khẩu phía Bắc trong ngắn hạn nhiều khả năng sẽ ở mức cầm chừng như hiện nay.

Hiện nay, giao dịch xuất nhập khẩu mặt hàng cao su thiên nhiên giữa các doanh nghiệp Việt Nam và Trung Quốc tại cửa khẩu phía Bắc diễn ra thưa thớt, không thường xuyên, thậm chí còn tạm dừng hoạt động. Nhu cầu về mặt hàng này của phía đối tác nhìn chung đang ở mức thấp. Đầu tháng 3/2016, tại các cửa khẩu phía Bắc có những giao dịch nhỏ lẻ với các lô hàng từ 50 – 80 tấn. Những thương vụ này được giao hệ chính ngạch. Sản lượng giao nhận cả tuần ở toàn tuyến biên giới phía Bắc đạt 500 tấn. Giá cao su xuất khẩu đang ở mức thấp, với cao su hỗn hợp loại I có giá là 7.600 NDT/tấn; loại II là 7.500 NDT/tấn. Xuất nhập khẩu cao su tại cửa khẩu phía Bắc trong ngắn hạn nhiều khả năng sẽ ở mức cầm chừng như hiện nay.

Từ đầu quý 4/2015, nhu cầu cao su của Trung Quốc đã giảm đáng kể khi các nhà máy sản xuất săm lốp tại Trung Quốc đã ngừng hoạt động vì sản phẩm không có đầu ra. Các đơn vị kinh doanh chuyên xuất khẩu cao su của Việt Nam theo đó cũng chịu nhiều ảnh hưởng, một số đơn vị đang tìm cách chuyển hướng thị trường hoặc chuyển đổi nghề nghiệp. Đây thật sự là một vấn đề khó khăn, cần sự hỗ trợ của các Bộ, ngành liên quan có cơ chế, chính sách hỗ trợ.

Theo Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), ước tính khối lượng xuất khẩu cao su tháng 3/2016 đạt 87 nghìn tấn với giá trị đạt 99 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 3 tháng đầu năm 2016 đạt 233 nghìn tấn với 263 triệu USD, tăng 19,2% về khối lượng nhưng giảm 6,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Giá cao su xuất khẩu bình quân 2 tháng đầu năm 2016 đạt 1.119,96 USD/tấn, giảm 21,31% so với cùng kỳ năm 2015. Trung Quốc và Ấn Độ là 2 thị trường tiêu thụ cao su lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm 2016, chiếm 59,60% thị phần. Hai tháng đầu năm 2016, giá trị xuất khẩu cao su trong ở hai thị trường này đều giảm so với cùng kỳ năm 2015, mức giảm lần lượt là: 3,99% và 31,56%.

Ước khối lượng nhập khẩu cao su trong tháng 3/2016 đạt 37 nghìn tấn với giá trị đạt 52 triệu USD, đưa khối lượng nhập khẩu mặt hàng này 3 tháng đầu năm 2016 đạt 91 nghìn tấn với giá trị đạt 131 triệu USD, tăng 4,1% về khối lượng nhưng vẫn giảm 13,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015. Thị trường nhập khẩu cao su chủ yếu trong 2 tháng đầu năm 2016 từ các nước như Hàn Quốc (chiếm 21,8%), Nhật Bản (15,5%) và Cam-pu-chia (12,4%). Ba thị trường có giá trị tăng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2015 là Hoa kỳ (tăng 29,4%), Trung Quốc (tăng 19,7%) và Ma-lai-xia (tăng 13,5%), còn lại các thị trường khác đều có giá trị giảm so với cùng kỳ năm 2015.

Nguyễn Lan Anh

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo Thống kê của Trung tâm Tin học và Thống kê (CIS), Bộ Nông nghiệp & PTNT

2. CSDL giá nông sản PMARD của CIS

3. Tin Reuters

Website: VRA, TTXVN, Vinanet, Vneconomy