Tìm đầu ra cho cao su

1
1332
Advertisement

Cao su là ngành đóng góp tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu quan trọng của nông nghiệp Việt Nam. Thế nhưng, hiện nay toàn ngành đang đối mặt với nhiều khó khăn như giá xuất khẩu thấp trong khi giá thành cao và chất lượng mủ thấp, gây ảnh hưởng không nhỏ đến doanh nghiệp sản xuất cao su lẫn nông dân. Vì vậy, các doanh nghiệp và các nhà quản lý đang phải tìm đầu ra để cao su Việt Nam vượt qua khó khăn hiện nay.

Đối mặt với khó khăn

Theo ông Đồng Minh Toàn, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Bình Phước, trong năm 2011, khi nhà nước áp thuế xuất khẩu cao su từ 0% lên 3% vào một số mặt hàng cao su xuất khẩu, đặc biệt cao su ly tâm (Latex bị áp 3% thuế khi xuất khẩu) cũng là lúc giá cao su giảm mạnh. Nhiều doanh nghiệp đã phải ngưng sản xuất mặt hàng này. Sau nhiều lần kiến nghị thì đến tháng 10/2014, thuế áp vào các mặt hàng cao su xuất khẩu được đưa về 0%. Thế nhưng, vẫn còn một điểm chưa thông thoáng về thuế giá trị gia tăng, đó là mặt hàng cao su sơ chế vẫn phải tính và chịu thuế suất 5%, chưa được áp dụng như những mặt hàng nông sản khác là không phải kê khai, tính nộp thuế giá trị gia tăng ở khâu kinh doanh thương mại.

Tìm đầu ra cho cao suBên cạnh đó, do yếu tố đặc trưng vùng miền nên một số doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng của thiên tai. Ông Văn Lưu, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Cao su Quảng Trị cho biết, do doanh nghiệp của ông nằm trên địa bàn miền Trung, vốn không được thuận lợi về điều kiện tự nhiên. Trong thời gian qua, công ty ông gặp nhiều khó khăn thách thức và tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro cao hơn so với các vùng khác. Nhất là những năm gần đây giá cao su liên tục giảm xuống mức thấp, tình hình tiêu thụ khó khăn, cùng với đó là do tác động của biến đổi khí hậu nên những cơn bão lớn bất thường xuất hiện với tần suất ngày càng cao, tình hình dịch bệnh trên vườn cây cũng ngày càng diễn biến phức tạp,… đã ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người lao động.

Ngoài ảnh hưởng về thời tiết, biến động thị trường, các doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi chất lượng cao su nguyên liệu đầu vào thấp, như tình trạng nhiều diện tích cao su tiểu điền, công ty tư nhân nhỏ pha trộn tạp chất vào mủ cao su nguyên liệu rồi bán lại cho doanh nghiệp. Tình trạng này chưa được quản lý và kiểm soát chặt chẽ. Hơn nữa, mức tiêu thụ cao su thiên nhiên trong nước để chế biến sản phẩm còn ít nên ngành cao su sẽ phải tiếp tục xuất khẩu nguyên liệu thô khoảng 70% tổng sản lượng cả nước trong nhiều năm tới.

Cơ cấu chủng loại cao su thiên nhiên của Việt Nam cũng chưa phù hợp với nhu cầu thế giới và ngành công nghiệp chế biến cao su trong nước. Mặc dù Việt Nam đã có các tiêu chuẩn quốc gia về chất lượng nguyên liệu cao su thiên nhiên tương đương với các nước tiên tiến, nhưng chưa có quy chuẩn, tiêu chuẩn kĩ thuật quốc gia đối với các nhà máy sơ chế, chế biến cao su và nguyên liệu đầu vào nên việc kiểm soát chất lượng khó thực hiện đồng bộ.

Không những thế, ngành cao su Việt Nam còn gặp sự cạnh tranh gay gắt từ các nước sản xuất cao su thiên nhiên khác trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia về chất lượng và giá cả. Công nghiệp chế biến thành phẩm cao su còn gặp khó khăn trong cạnh tranh với những sản phẩm nhập khẩu không được kiểm soát về giá cả. thiếu hàng rào kĩ thuật trong thương mại để ngăn chặn hàng hóa kém chất lượng nhập khẩu từ các nước, gây thiệt hại cho người tiêu dùng và cạnh tranh không lành mạnh với hàng hóa trong nước.

Cải thiện chất lượng sản phẩm

Trước những khó khăn trên, để ngành cao su vượt qua được trong giai đoạn này cần phải có hệ thống giải pháp đồng bộ từ việc ứng phó giá giảm đến cải thiện chất lượng sản phẩm trong toàn ngành. Hiện, cả nước có khoảng 900.000 ha trồng cao su, với sản lượng gần 1 triệu tấn/năm, so với thế giới Việt Nam chỉ chiếm 8% sản lượng, nên việc chúng ta giữ giá hoặc làm giá là điều không thể.

Theo ông Trần Ngọc Thuận, Chủ tịch Hiệp hội cao su Việt Nam, để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp sản xuất cao su thiên nhiên trước hết là có cơ chế chính sách thích hợp. Vừa qua theo đề nghị của hiệp hội thì thuế xuất khẩu cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp đã trở về 0%, đây là một điều chỉnh kịp thời phù hợp với kì vọng của các nhà sản xuất cao su thiên nhiên. Hiệp hội cũng đề nghị với các bộ ngành liên quan, đặc biệt là Bộ Tài chính không nên kê khai thuế giá trị gia tăng đối với các doanh nghiệp sản xuất và thương mại cao su. Vì sau này các doanh nghiệp này cũng được hoàn thuế, thời gian chờ hoàn thuế lâu, doanh nghiệp không có tiền xoay vòng vốn.

Ngoài ra, với giá cao su nguyên liệu hiện nay thấp, các tiểu điền lẫn doanh nghiệp nhỏ đều thiếu vốn xoay vòng sản xuất, thuế đất lại góp phần không nhỏ vào giá thành sản xuất cao su. Vì vậy, Hiệp hội đề xuất miễn thuế đất trong khoảng thời gian sản xuất cao su cơ bản là 6 – 7 năm. Khi vườn cao su có thể cho thu hoạch thì mới thu thuế theo quy định của Chính phủ và địa phương. Đề nghị miễn thuế đất từ 6-7 năm, sau khi có sản phẩm thì tiếp tục thu tiền thuế đất bình thường như quy định của Chính phủ và địa phương.

Không những vậy, điều cơ bản nhất hiện nay là làm sao để các doanh nghiệp sản xuất cao su không thua lỗ và đảm bảo sản xuất có lãi. Dự kiến trong thời gian tới, Hiệp hội Cao su Việt Nam sẽ tham gia Hội đồng cao su quốc tế 3 bên gồm Thái Lan, Malaysia, Indonesia thành hội đồng 4 bên, tham gia vào công ty cao su quốc tế 3 bên thành công ty cao su quốc tế 4 bên. Đây là bước đi và chỉ đạo của Chính phủ rất kịp thời trong việc ổn định các nhà sản xuất cao su thiên nhiên trong giai đoạn khó khăn hiện nay.

Ông Võ Quang Thuận, Giám đốc Công ty Cao su Thuận Lợi đề xuất, cần có tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nguyên liệu mủ cao su đầu vào khi đưa đến các nhà máy sơ chế cao su để có cơ sở pháp lý cho các cơ quan chức năng kiểm tra và xử phạt vi phạm. Viện nghiên cứu Cao su cần mở rộng chức năng và dịch vụ đánh giá năng lực, độ chính xác, độ tin cậy của các phòng kiểm phẩm cao su trong cả nước. Nhà nước giám sát, quản lý chặt chẽ chất lượng cao su thiên nhiên Việt Nam và hỗ trợ Hiệp hội Cao su việt nam xây dựng thương hiệu ngành cao su Việt Nam trên cơ sở khuyến khích các doanh nghiệp đảm bảo chất lượng sản phẩm và uy tín thương mại, đồng thời có lộ trình phù hợp để tiến đến yêu cầu tất cả các lô hàng cao su phải có giấy chứng nhận chất lượng đi kèm.

Còn ông Đoàn Việt Cường, Phó Tổng giám đốc Công ty cao su Liên Anh cho rằng, theo định hướng của hiệp hội cao su Việt Nam, các doanh nghiệp cũng chuyển đổi mục tiêu sản xuất, giảm lượng xuất khẩu thô, chuyển sang sản xuất các mặt hàng thị trường yêu cầu.

Ông Thuận cho biết thêm, toàn ngành cũng phấn đấu sau năm 2020 chỉ xuất khẩu thô 50% sản lượng cao su. Số còn lại sẽ được tinh chế rồi mới xuất khẩu để tăng giá trị cho cao su thiên nhiên Việt Nam; đồng thời, tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp sử dụng cao su thiên nhiên hơn nữa về giá, cơ chế hoạt động, sản xuất, cung ứng,… để làm ra loại cao su mà thị trường cần nhiều nhất như SVR10, SVR 20, RSS, cao su li tâm Latex tăng từ 10% lên 40%, giảm loại hàng thị trường ít sử dụng như SVR 3L từ 60% xuống còn 25%.