Xuất khẩu cao su tháng 10 ước đạt 80 ngàn tấn

0
174

Xuất khẩu cao su tháng 10 ước đạt 80 ngàn tấnTheo báo cáo kết quả thực hiện tháng 10 và 10 tháng năm 2011 của Trung tâm tin học và thống kê Bộ NN&PTNT, khối lượng cao su xuất khẩu tháng 10 ước đạt 80 ngàn tấn và thu về 342 triệu USD, với ước tính này 10 tháng đầu năm xuất khẩu đạt 608 ngàn tấn với trị giá 2,6 tỷ USD; tăng 2,7% về lượng và 57,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2010.

Xuất khẩu cao su tăng trưởng về kim ngạch ở hầu hết các thị trường dù lượng xuất khẩu sang một số thị trường sụt giảm. Giá cao su xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm tăng 56,3% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 4.325 USD/tấn.

Tình hình xuất khẩu các loại nông, lâm và thủy sản khác:

Khối lượng xuất khẩu phần lớn các mặt hàng nông, lâm, thủy sản tăng nhẹ so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi giá trị xuất khẩu tăng khá mạnh do giá tăng cao. Giá trị xuất khẩu nông, lâm và thủy sản tháng 10 ước đạt 2,2 tỷ USD, đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm lên 20,8 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,6 tỷ USD, tăng xấp xỉ 45%; thuỷ sản ước đạt 4,95 tỷ USD, tăng 23,2%; lâm sản đạt 3,4 tỷ USD, tăng 16,2%.

Cụ thể một số mặt hàng chính như sau:

+ Gạo: Ước tháng 10 xuất khẩu 550 ngàn tấn, kim ngạch đạt 300 triệu USD, đưa tổng lượng gạo xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước đạt 6,5 triệu tấn, kim ngạch đạt 3,3 tỷ USD, tăng 11,6% về  lượng và 20,3% về giá trị. Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng đầu năm đạt 500 USD/tấn, tăng xấp xỉ 7% so với cùng kỳ năm 2010. In-đô-nê- xia tiếp tục giữ vững vị trí là thị trường tiêu thụ gạo lớn nhất của Việt Nam với mức tăng gấp 3,4 lần về lượng và gấp 2,8 lần về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Các thị trường khác như Xê-nê-gan cũng tăng gấp hơn 5 lần và Trung Quốc tăng gấp hơn 3 lần về giá trị so với cùng kỳ. Trong khi đó, thị trường Phi-lip-pin và Xinh-ga-po lại sụt giảm khá mạnh. Để bù vào sự sụt giảm của hai thị trường trên, các doanh nghiệp Việt Nam đã tăng cường xuất khẩu sang các thị trường mới như Băng-la-đet, Xê-nê-gan, Bờ Biển Ngà và Gana.

+ Sắn và các sản phẩm từ sắn: Xuất khẩu tháng 10 ước đạt 180 ngàn tấn, trị giá 65 triệu USD, đưa lượng xuất khẩu 10 tháng lên 2,3 triệu tấn và giá trị đạt 815 triệu USD, tăng 60,5% về lượng và 93,4% về giá trị so với năm 2010. Giá xuất khẩu bình quân 9 tháng tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, đạt 355,9 USD/tấn. Thị trường tiêu thụ chính của mặt hàng này là Trung Quốc, chiếm 92,4% tổng giá trị xuất khẩu.

+ Cà phê: Ước xuất khẩu tháng 10 đạt 35 ngàn tấn với trị giá 80 triệu USD, đưa lượng xuất khẩu 10 tháng lên hơn 1 triệu tấn và giá trị đạt 2,3 tỷ USD, tăng xấp xỉ 6% về lượng và 60,6% về giá trị so với năm 2010. Giá cà phê xuất khẩu tiếp tục tăng, trong khi đó nguồn cung nội địa lại giảm đẩy giá cà phê trong nước tăng mạnh. Giá xuất khẩu bình quân 9 tháng đang ở mức 2.209 USD/tấn tăng 53% so với cùng kỳ năm trước.

+ Chè: Ước xuất khẩu tháng 10 đạt 15 ngàn tấn với kim ngạch đạt 25 triệu USD, đưa tổng lượng chè xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước đạt 112 ngàn tấn, kim ngạch đạt 173 triệu USD, tăng nhẹ 1,6% về lượng và tăng 7,3% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu chè bình quân 9 tháng đầu năm đạt 1.530 USD/tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm 2010.

+ Hạt điều: Tháng 10, xuất khẩu ước đạt 20 ngàn tấn với giá trị 190 triệu USD, đưa tổng lượng xuất khẩu 10 tháng đầu năm ở mức 146 ngàn tấn với trị giá 1,2 tỷ USD, mặc dù lượng giảm (-8,1%) nhưng kim ngạch vẫn tăng 36,5% so với cùng kỳ năm 2010. Khối lượng xuất khẩu giảm ở nhiều thị trường lớn như Hoa Kỳ, Ôx-trây- lia, Anh, Ca-na-đa và Thái Lan nhưng giá trị xuất khẩu sang hầu hết các thị trường đều tăng lên. Giá xuất khẩu tăng mạnh, giá xuất khẩu trung bình 9 tháng đạt 8.245USD/tấn, tăng 48,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

+ Tiêu: Xuất khẩu tháng 10 ước đạt 10 ngàn tấn, kim ngạch đạt 72 triệu USD đưa khối lượng tiêu xuất khẩu 10 tháng lên con số 120 ngàn tấn với giá trị kim gạch xuất khẩu 702 triệu USD, tăng 15,2% về lượng và gấp gần 2 lần về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá tiêu xuất khẩu tăng mạnh, giá bình quân 9 tháng đạt 5.730 USD/tấn tăng 69,1% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung hạn chế khiến lượng xuất khẩu sang một số thị trường sụt giảm, nhưng kim ngạch vẫn tăng khá mạnh như Hoa Kỳ,Tây Ban Nha, Xingapo tăng gấp hơn 3 lần về giá trị.

+ Lâm sản và đồ gỗ: Tháng 10, xuất khẩu các mặt hàng lâm sản chính và đồ gỗ ước đạt 381 triệu USD đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 10 tháng đầu năm ước đạt 3,4 tỉ USD, tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, gỗ và sản phẩm gỗ ước đạt 3,2 tỷ USD, tăng 17,2%; sản phẩm mây tre, cói thảm ước đạt 160 triệu USD, giảm 4,6% so với cùng kỳ năm trước.

+ Thuỷ sản: Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản tháng 10 ước đạt 600 triệu USD đưa giá trị xuất khẩu 10 tháng đầu năm đạt 4,95 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu sang hầu hết các thị trường lớn tăng trưởng khá về giá trị, điển hình như Hoa Kỳ tăng 27,7%, Hàn Quốc 38,1%, Trung Quốc 47,5%, và Italia 42,1%.

Các bạn quan tâm có thể tải về và đọc toàn bộ báo cáo đính kèm dưới đây (file FDF)

Nguồn: Trung tâm tin học và thống kê Bộ NN&PTNT

Loading...