Theo Báo cáo của Trung tâm tin học và Thống kê Bộ NN&PTNT, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản tháng 5 ước đạt 2,3 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản 5 tháng đầu năm ước đạt gần 10,9 tỷ USD, tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt xấp xỉ 6,1 tỷ USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 2%; thuỷ sản ước đạt xấp xỉ 2,3 tỷ USD, tăng 9,8% so cùng kỳ; lâm sản ước đạt gần 1,9 tỷ USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ. Khối lượng và giá trị xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông lâm thuỷ sản đều tăng trưởng khả quan, ngoại trừ mặt hàng gạo và cao su.
Kết quả cụ thể một số mặt hàng chủ yếu như sau:
Gạo: Ước xuất khẩu tháng 5 đạt 8s0 ngàn tấn, thu về 390 triệu USD. Lượng gạo xuất khẩu 5 tháng đầu năm ước đạt 3 triệu tấn, với giá trị 1,4 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước giảm 9,s% về lượng và 14,2% về giá trị. Giá gạo tiếp tục có xu hướng giảm so với đầu năm. Giá xuất khẩu bình quân chung 4 tháng đầu năm đạt 470 USD/tấn, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm ngoái. Thị trường xuất khẩu gạo năm nay có nhiều thay đổi, trong đó thị trường Trung Quốc tăng mạnh, gấp 4,4 lần về lượng và gần 4 lần về giá trị so với cùng kỳ năm trước và trở thành thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam. Bên cạnh đó, thị trường Malaixia đã vượt qua Inđônêxia và trở thành thị trường nhập khẩu lớn thứ hai, tăng xấp xỉ 30% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo cũng tích cực tìm kiếm các thị trường mới thay thế cho các thị trường truyền thống; Châu Phi là nhóm thị trường có tăng trưởng vượt bậc như Bờ Biển Ngà, Gana và Xênêgan, giúp tiêu thụ gạo phẩm cấp trung bình của Việt Nam.
Cà phê: Ước xuất khẩu cà phê tháng 5 đạt 160 ngàn tấn, với giá trị đạt 334 triệu USD. Ước lượng cà phê xuất khẩu 5 tháng đạt 860 ngàn tấn, kim ngạch gần 1,8 tỷ USD, so cùng kỳ năm trước tăng cả về lượng (7,8%) và giá trị (3%). Giá cà phê xuất khẩu bình quân 5 tháng là 2.087 USD/tấn thấp hơn cùng kỳ năm ngoái 63 USD/tấn. Hai thị trường tiêu thụ cà phê lớn nhất của Việt Nam là Đức (chiếm tỷ trọng giá trị 13,9%) và Hoa Kỳ (12,8%) tăng trưởng khá cả về lượng và giá trị, đáng chú ý nhất là thị trường Inđônêxia tăng trưởng đột biến, gấp 8 lần so với cùng kỳ năm 2011. Một số thị trường lớn khác thì có sự thụt lùi đáng kể, chẳng hạn như Bỉ (là thị trường lớn nhất của Việt Nam năm 2011) chỉ bằng xấp xỉ 1/3 lượng và giá trị so với cùng kỳ năm trước.
Cao su: Ước xuất khẩu cao su tháng 5 đạt 50 ngàn tấn, giá trị đạt 150 triệu USD, đưa lượng cao su xuất khẩu 5 tháng lên 317 ngàn tấn, thu về 952 triệu USD, tăng 35,2% về lượng nhưng lại giảm 7,2% về giá trị. Giá xuất khẩu trung bình 4 tháng đầu năm đạt 3.000 USD/tấn, giảm 1.365 USD/tấn so với cùng kỳ năm ngoái. Mặc dù tình hình tiêu thụ cao su vẫn khá tốt, so với cùng kỳ năm 2011 lượng cao su xuất khẩu tăng ở nhiều thị trường lớn như Trung Quốc (tăng 16,8%), Malaixia (gấp 3 lần), Đài Loan (tăng 61%), Ân Độ gấp 6 lần nhưng do giá cao su đang xuống thấp nhất từ đầu năm đến nay nên giá trị xuất khẩu cao su lại giảm.
Chè: Ước tháng 5, xuất khẩu đạt 9 ngàn tấn, với giá trị 13 triệu USD. Lượng chè xuất khẩu 5 tháng đầu năm ước đạt 49 ngàn tấn, với kim ngạch hơn 69 triệu USD, so với cùng kỳ năm trước tăng 17,2% về lượng và 14,8% về giá trị. Giá bình quân 4 tháng đạt 1.407 USD/tấn, giảm nhẹ (1,9%) so với cùng kỳ năm 2011. Tình hình tiêu thụ chè khá khả quan, Pakixtan tiếp tục giữ vị trí thứ nhất, tăng trưởng được thấy ở hầu hết các thị trường lớn ngoại trừ Nga và Đức.
Hạt điều: Ước tháng 5, xuất khẩu đạt 15 ngàn tấn với kim ngạch 104 triệu USD. Lượng điều xuất khẩu 5 tháng ước đạt 70 ngàn tấn, kim ngạch 484 triệu USD, tăng 30,9% về lượng và 21,4% về giá trị so với cùng kỳ năm 2011. Việt Nam tiếp tục giữ vững là nước xuất khẩu hạt điều nhân đứng thứ 1 thế giới. Giá hạt điều XK bình quân 4 tháng đạt 6.900 USD/tấn giảm 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các thị trường tiêu thụ lớn đều có sự tăng trưởng mạnh. Các thị trường tiêu thụ hạt điều lớn của Việt Nam vẫn là Hoa Kỳ (chiếm tỷ trọng giá trị 26,3%), Trung Quốc (20%), Hà Lan (13%)
Tiêu: Ước tháng 5 xuất khẩu 15 ngàn tấn, kim ngạch đạt 102 triệu USD. Ước lượng tiêu xuất khẩu 5 tháng đạt 62 ngàn tấn, kim ngạch 424 triệu USD, so cùng kỳ năm trước lượng tăng 14,5% và giá trị tăng tới 47,2%. Giá tiêu XK bình quân 4 tháng đạt 6.795 USD/tấn, tăng 1.682 USD/tấn so với năm trước. Mặc dù khối lượng xuất khẩu của hai thị trường lớn nhất là Hoa Kỳ và Đức giảm sút so với cùng kỳ năm trước nhưng giá trị xuất khẩu của tất cả các thị trường trọng điểm đều tăng.
Gỗ và sản phẩm gỗ: Ước kim ngạch XK tháng 5 đạt 360 triệu USD, đưa kim ngạch XK 5 tháng lên gần 1,8 tỷ USD, tăng so với cùng kỳ năm trước 20,5%. Tất cả các thị trường tiêu thụ lớn đều tăng trưởng mạnh, Hoa Kỳ tăng 31%, Nhật Bản 29,2% so với cùng kỳ năm 2011.
Thuỷ sản : Ước giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản tháng 5 đạt 500 triệu USD, nâng tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủy sản 5 tháng lên 2,3 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2011. Xuất khẩu thủy sản sang các nước thuộc khối EU còn gặp nhiều khó khăn không chỉ do tác động của khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà còn do những rào cản phi thuế của các thị trường này. Giá trị xuất khẩu sang khối thị trường này giảm mạnh, trong đó Đức giảm 26,4%, Hà Lan giảm 10,9%, Italia giảm 16,3% so với cùng kỳ năm 2011.
Nguồn: Trung tâm tin học và thống kê Bộ NN&PTNT










